Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Gia Lai. 7 e Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG 1. Khái niệm về thi đua, khen thƣởng 1.
Khái niệm về thi đua Thi đua là một công cụ quản lý quan trọng của Nhà nước, nhưng đã có những lúc, những nơi nhận thức chưa đầy đủ về vấn đề này. Có lúc người ta tưởng thi đua ra đời là có thể hoàn toàn thay thế cạnh tranh. Lại có lúc có người cho rằng trong cơ chế thị trường chỉ cần cạnh tranh, không cần thi đua. Hoặc có người tưởng rằng thi đua chỉ là công việc có tính nhất thời, là công việc có tính phong trào, hình thức trong các dịp kỷ niệm, chưa coi trọng đúng mức tầm quan trọng của thi đua.
Thực ra, thi đua là một trong những vấn đề lớn trong lý luận và thực tiễn, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đã viết rất nhiều sách báo ca ngợi tự do cạnh tranh, tính tháo vát cá nhân và những kỳ công đẹp đẽ của chủ nghĩa tư bản với tự do cạnh tranh tạo nên. Họ trách rằng những người xã hội chủ nghĩa không muốn hiểu ý nghĩa của những kỳ công đó và không muốn coi trọng thiên tính con người trong tự do cạnh tranh. Song, lần đầu tiên trên thế giới, trong quá trình lãnh đạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, Lê – nin khẳng định rằng những người xã hội chủ nghĩa thừa nhận tính tất yếu của tự do cạnh tranh trong chế độ tư bản chủ nghĩa và còn coi cạnh tranh là một hình thức “thi đua đặc biệt” mà xã hội tư bản chủ nghĩa vốn có, nhưng chỉ ra trong mục đích, bản chất của tự do cạnh tranh có những mặt tiêu cực trái ngược với mục đích của thi đua trong chế độ xã hội mới, xã hội chủ nghĩa: “Những người xã hội chủ nghĩa chưa hề bao giờ đả kích việc thi đua cả, mà chỉ đả kích sự cạnh tranh thôi. Cạnh tranh là một hình thức thi đua đặc biệt mà xã hội tư bản chủ nghĩa vốn có, là sự giành giật miếng ăn, giành giật ảnh hưởng và địa vị trên thị trường giữa những người sản xuất riêng lẻ” [ 17, tr 185].
8 e Trong thực tế, cạnh tranh trong chủ nghĩa tư bản có tính phủ định. Nó tất yếu dẫn đến tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”. Còn thi đua trong chủ nghĩa xã hội làm cho mọi người, mọi tổ chức cùng thi đua, hợp tác để phát triển. Đó là sự khác nhau về bả chất giữa thi đua và cạnh tranh.
Hiến pháp Liên Xô (trước đây) coi thi đua xã hội chủ nghĩa là một trong những nhân tố làm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu suất và chất lượng công tác. Sự giúp đỡ lẫn nhau là yếu tố cần thiết trong thi đua xã hội chủ nghĩa. Đồng thời sự giúp đỡ ấy không loại bỏ tinh thần tranh tài, đua sức lành mạnh mà nếu không có nó thì không có ngay cả thi đua. Không loại bỏ xu hướng con người muốn thông qua lao động để khẳng định những phẩm chất, khả năng của mình.Thi đua là đòn bẩy mạnh mẽ của tiến bộ kinh tế xã hội, là trường học giáo dục chính trị lao động và đạo đức cho nhân dân lao động.
Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về thi đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nâng quan niệm về thi đua lên tầm tư tưởng, đường lối chính trị. Coi thi đua yêu nước là biểu hiện của lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam. Thi đua yêu nước là cốt cách, phẩm chất đạo đức của người Việt Nam yêu nước. Người đã khởi xướng việc tổ chức các phong trào thi đua trên các lĩnh vực đời sống xã hội ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam giành được chính quyền sau Cách mạng tháng Tám và bắt tay vào xây dựng chế độ xã hội mới, trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài đều muốn thủ tiêu chế độ mới đó, Người đã làm cho thi đua yêu nước trở thành một phương pháp cách mạng mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt cho Đảng Nhà nước ta lần đầu tiên chính thức phát động phong trào Thi đua ái quốc vào ngày 11 tháng 6 năm 1948. Từ đó, Người lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta liên tục phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước, làm cho các phong trào thi đua yêu nước phát triển hết sức mạnh mẽ, động viên, thu hút tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, các nhân sĩ, trí thức tham gia. 9 e Trong thời kỳ chống thực dân Pháp có những phong trào thi đua yêu nước có những tên gọi và khẩu hiệu nổi tiếng như: - Yêu nước thì phải thi đua. Thi đua là yêu nước.
- Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. - Người người thi đua, ngành ngành thi đua. - Ta nhất định thắng, địch nhất định thua. - Hũ gạo kháng chiến, bình dân học vụ.
- Phong trào thi đua giết giặc lập công. Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có các phong trào thi đua và khẩu hiệu cách mạng nổi tiếng như: - Sóng Duyên Hải, Gió Đại Phong, Cờ Ba nhất. - Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt. - Thanh niên “3 sẵn sang”, Phụ nữ “3 đảm đang”.
- Thi đua dạy tốt, học tốt. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ: “Hễ là người Việt Nam yêu nước thì phải thi đua, thi đua là yêu nước. Thi đua là một cách yêu nước thiết thực nhất, những người thi đua là những người yêu nước nhất. Nước nhà đang kháng chiến và kiến quốc, mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau chóng thắng lợi, kiến thiết nhanh chóng thành công” [15].
Thi đua là hoạt động tích cực sáng tạo, là sự phấn đấu vươn lên giành lấy kết quả tốt đẹp hơn. Tại Khoản 1 Điều 3 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013 có định nghĩa về khái niệm của thi đua như sau: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [20]. Như vậy theo nội dung khái niệm trên thì thi đua phải bao gồm 3 yếu tố là: Thứ nhất: Thi đua là hoạt động có tổ chức vì các phong trào thi đua là do người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương phát động để thực hiện nhiệm vụ 10 e của cơ quan, đơn vị, địa phương. Hoạt động có tổ chức của thi đua được thể hiện từ khi lập kế hoạch, xác định mục tiêu, hình thức, đối tượng, tổ chức phát động, ký giao ước thi đua, kiểm tra, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, biểu dương, nhân rộng điển hình tiên tiến,… Thứ hai: Thi đua là hoạt động tự nguyện, có tự nguyện thì mới khơi dậy được sự sáng tạo của con người.
Chỉ khi có tập thể cùng nhau hoạt động trên tinh thần tự nguyện thì thi đua mới có ý nghĩa. Thứ ba: Thi đua là hoạt động có mục tiêu và hướng đích rõ rệt, mục đích để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thi đua sẽ giúp cho hiệu quả, chất lượng và năng suất lao động, học tập và công tác không ngừng được nâng lên, từ đó thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt. Khái niệm về khen thưởng Khen thưởng là khái niệm không xa lạ, bởi khái niệm này được tiếp cận ở nhiều văn bản về thi đua, khen thưởng qua từng thời kỳ khác nhau. Khen thưởng được hiểu chung là việc làm của một cá nhân, tổ chức một cách chính thức đối với đối tượng có thành tích nào đó.
Trong lịch sử đất nước, việc khen thưởng diễn ra rất đa dạng như: Khen thưởng người có công trong chiến trạn, người có công trong việc đi sư, người phò tá có công lao tài đức, người tiến cử người hiền tài, người có lời tâu đúng, người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên, người có công làm thủy lợi, người có tài văn chương, người cao tuổi [14]. Đối tượng khen thưởng rất rộng rãi, từ người già đến trẻ em (từ 11 tuổi), từ nam giới đến phụ nữ, từ người Kinh đến người dân tộc thiểu số đều được khen thưởng. Hình thức khen thưởng cũng rất đa dạng. Nếu còn sống người được khen thưởng có thể nhận được một trong các hình thức: Được ban họ vua (Quốc thính), được ghi công vào sử sách, được vẽ hình, được dựng bia ghi công, được phong chức, được thưởng vàng, bạc, được cấp ruộng đất.
Nếu người có công đã mất thì vua đích thân làm văn tế, giảm ăn, nghỉ coi trầu một số ngày, truy phong, 11 e truy tặng hoặc gửi vàng bạc, lụa để viếng, phong quan chức cho con, cấp ruộng cho con cháu thờ cúng [14]. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc khen thưởng, Người nêu rõ: “Thưởng phạt phải nghiêm minh, có công thì thưởng, có lỗi thì phạt; có công mới có huân, phải có công huân mới được thưởng huân chương, thưởng cái nào đích đáng cái ấy, khen thưởng phải có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gương” [13]. Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 26/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Quốc lệnh 10 điều thưởng phạt của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ rõ 10 loại công việc và thành tích cần được khen thưởng ngay, gồm: “1. Nhà nào có 3 con tòng quân sẽ được thưởng.
Ai lập được quân công sẽ được thưởng. Ai vì nước hi sinh sẽ được thưởng. Ai ra trận can đảm phi thường sẽ được thưởng. Ai làm việc một cách trong sạch, ngay thẳng sẽ được thưởng.
Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà, dân tộc, được dân chúng mến phục sẽ được thưởng. Ai bỏ tiền ra xây đắp cầu cống, đê, đường sẽ được thưởng. Ai bắt được những kẻ phản quốc sẽ được thưởng. Ai liều mình về công việc sẽ được thưởng.
Ai cứu được người bị nạn sẽ được thưởng” [13].