Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về tái cơ cấu cơ cấu NHTM Chương 2: Thực trạng sự quản lý của Nhà nƣớc về tái cơ cấu cơ cấu Agribank giai đoạn hiện nay Chương 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về tái cơ cấu Agribank hiện nay e 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÁI CƠ CẤU NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại và tái cơ cấu ngân hàng thƣơng mại 1. Tổ chức hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân Hệ thống ngân hàng đã ra đời từ những năm trƣớc thế kỷ 15 và có một quá trình phát triển lâu dài từ ngân hàng sơ khai đến ngân hàng hiện đại nhƣ ngày nay. Cùng với sự phát triển đó có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về Ngân hàng.
Mỗi nhà kinh tế hay trƣờng phái, đạo luật khác nhau khi đƣa ra quan điểm đều xuất phát từ đặc thù về hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên do hệ thống các Ngân hàng ngày càng đa dạng về các dịch vụ của mình do vậy khi đƣa ra định nghĩa sẽ có những cách nhìn nhận khác nhau. Theo WorldBank “Ngân hàng là tổ chức Tài chính nhận tiền gửi dƣới dạng không kỳ hạn hay tiền gửi đƣợc rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn) và các khoản tiết kiệm”, gồm có: Các Ngân hàng thƣơng mại chỉ tham gia vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn hạn và trung dài hạn; Các ngân hàng đầu tƣ hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; Các Ngân hàng nhà ở cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại khác nữa. Tại một số nƣớc còn có các ngân hàng tổng hợp kết hợp hoạt động ngân hàng thƣơng mại với hoạt động ngân hàng đầu tƣ và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm.
Theo quy định tại điều 20, Luật các Tổ chức tín dụng của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đƣợc Quốc hội khoá X thông qua: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương e 8 mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách và các loại hình ngân hàng khác”.“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Các ngân hàng sẽ đƣợc tổ chức thành hệ thống đƣợc phân ra nhiều cấp độ tuỳ theo chức năng hoạt động. Thông thƣờng hệ thống ngân hàng gồm có 2 cấp: Cấp quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng: gồm có Ngân hàng Nhà nƣớc (hay còn gọi là Ngân hàng Trung ƣơng) thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, thực thi chính sách tiền tệ… Cấp kinh doanh: bao gồm các định chế tài chính kinh doanh toàn bộ hay từng phần của hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng.
Cụ thể nhƣ: các ngân hàng thƣơng mại, ngân hàng đầu tƣ, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác, các quỹ tín dụng, quỹ đầu tƣ, công ty tài chính,… Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức hệ thống ngân hàng ở Việt Nam Nguồn: http://www.2: Mô hình hệ thống các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam Nguồn: http://www.vn Tính đến 30/06/2016 Hệ thống các Tổ chức Tín dụng tại Việt Nam gồm có: 4 Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc, 2 Ngân hàng chính sách, 1 Ngân hàng Hợp tác xã, 31 Ngân hàng thƣơng mại cổ phần trong nƣớc, 8 Ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài, 2 Ngân hàng liên doanh; 16 Công ty tài chính, 11 Công ty cho thuê tài chính; 3 Tổ chức tài chính vi mô; 51 Chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài tại Việt Nam; 51 Văn phòng đại diện của Tổ chức tín dụng nƣớc ngoài tại Việt Nam. Ngân hàng thương mại Ngân hàng Thương mại là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng. Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nƣớc xác định: "Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán". Còn theo Luật các tổ chức tín dụng thì NHTM là một doanh nghiệp thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng đó là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán.
Theo Luật Ngân hàng nhà nƣớc: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Nhƣ vậy NHTM làm nhiệm vụ trung gian tài chính đi vay để cho vay qua đó thu lời từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, nó thực sự là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ tài chính, mặc dù giữa NHTM và các tổ chức tài chính trung gian khác rất khó phân biệt sự khác nhau, nhƣng ngƣời ta vẫn phải tách NHTM ra thành một nhóm riêng vì những lý do rất đặc biệt của nó nhƣ tổng tài sản có của NHTM luôn là khối lƣợng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng, hơn nữa khối lƣợng séc hay tài khoản gửi không kì hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế. Cho thấy NHTM có vị trí rất quan trọng trong hệ thống ngân hàng cũng nhƣ trong nền kinh tế quốc dân. Từ đó có thể nói bản chất của ngân hàng thƣơng mại đƣợc thể hiện qua các điểm sau: Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức e 11 kinh tế - Ngân hàng thƣơng mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng Phân loại NHTM: Căn cứ vào tính chất sở hữu: NHTM nhà nƣớc và NHTM phi nhà nƣớc.
NHTM Nhà nƣớc: là ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nƣớc, do nhà nƣớc đầu tƣ vốn để thành lập ngân hàng, ngoài hoạt động kinh doanh ngân hàng Nhà nƣớc còn hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã định của nhà nƣớc. NHTM phi Nhà nƣớc: là NHTM không thuộc sở hữu nhà nƣớc. Loại hình này gồm có: NHTM cổ phần, NHTM liên doanh, NHTM nƣớc ngoài. Căn cứ tính chất nghiệp vụ kinh doanh: ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ.
Ngân hàng bán buôn: là các ngân hàng có vốn điều lệ lớn và khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp, các công ty và các tổ chức kinh tế trực tiếp sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ. Ngân hàng bán lẻ: khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, công ty trách nhiệm hữu hạn và cá nhân. Ngân hàng đa năng: là kết hợp cả bán buôn và bán lẻ. Căn cứ vào hệ thống tổ chức: NHTM hội sở và NHTM chi nhánh.
NHTM hội sở: hay còn gọi là NHTM trung ƣơng, đây là cơ quan điều hành nghiệp vụ cao nhất của NHTM, hội sở NHTM đƣợc phép thực hiện tất cả các nghiệp vụ ngân hàng. NHTM hội sở có quan hệ nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay, thanh toán trực tiếp với ngân hàng trung ƣơng. NHTM chi nhánh: là “chân rết” của NHTM trung ƣơng, không đƣợc phép thực hiện 100% các nghiệp vụ. Tính đến 30/6/2016, hệ thống NHTM Việt Nam bao gồm 4 NHTM Nhà nƣớc, 31 NHTM cổ phần trong nƣớc, 51 chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, 8 ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài, 2 ngân hàng liên doanh.
Mạng lƣới hoạt động của các ngân hàng đã trải rộng tới nhiều tỉnh, thành phố trên cả nƣớc. Đa số các Ngân hàng vẫn tiếp tục có nhu cầu mở rộng mạng lƣới. Giữa trụ sở e 12 và các chi nhánh về cơ bản đã đƣợc kết nối trực tuyến, do đó chất lƣợng quản lý trong hệ thống của nội bộ từng NHTM đã có sự cải thiện đáng kể. Các hoạt động cơ bản của NHTM nhìn tổng quan, NHTM thực hiện các nghiệp vụ cơ bản sau đây: Nghiệp vụ huy động vốn, Nghiệp vụ cho vay, Các Dịch vụ ngân hàng khác.
- Vai trò của NHTM Việt Nam: * Khuyến khích tiết kiệm, góp phần hình thành và hỗ trợ các dòng vốn luân chuyển. Trong nền kinh tế luôn xuất hiện những chủ thể ở tình trạng thặng dƣ tạm thời. Họ có nhu cầu đầu tƣ để bảo toàn vốn và sinh lời. Tuy vậy, không phải ai cũng có cơ hội thực hiện điều đó.
Các NHTM huy động những khoản vốn này dƣới nhiều hình thức: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, tích tụ chúng và cho vay lại nền kinh tế. Nhƣ vậy, thay vì bị rút khỏi lƣu thông, tồn tại dƣới dạng cất trữ, tiền đƣợc chuyển thành vốn đầu tƣ, sinh lời. Thông qua hệ thống NHTM, các dòng vốn đƣợc hình thành và luân chuyển một cách dễ dàng, thông suốt hơn trong nền kinh tế. Một số bộ phận của các dòng vốn này có liên quan trực tiếp đến tăng trƣởng kinh tế, nhƣ các khoản đầu tƣ vào sự phát triển cơ sở hạ tầng, nhƣng hầu hết các bộ phận khác chỉ đơn thuần làm tăng nguồn lực vốn trong quan hệ với lợi tức tài chính của các khoản đầu tƣ, cả trong các khoản đầu tƣ nợ lẫn đầu tƣ vốn chủ sở hữu.
* Phân bổ vốn hữu hiệu giữa các ngành, các lĩnh vực. NHTM về bản chất là các doanh nghiệp, kinh doanh vì mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Họ phải lựa chọn những doanh nghiệp hay dự án có khả năng thu hồi nợ, có hiệu quả để cho vay. Nhờ quá trình sàng lọc tín dụng, vốn trong nền kinh tế đƣợc tập trung vào những khu vực có khả năng sinh lời cao, mang lại nhiều lợi ích.
Những lĩnh vực hay ngành nghề e 13 kém hiệu quả sẽ không nhận đƣợc vốn. Nhờ các trung gian tài chính này, vốn đƣợc phân bổ hữu hiệu giữa các ngành, các lĩnh vực. * Giảm chi phí, tối thiểu hóa rủi ro.