Quản lý tài sản công tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế)

Dưới đây là meta tags cho bài viết 'Quản lý tài sản công tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên': { "ai_description": "Quản lý tài sản công là

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

235
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý tài sản công tại trường đại học

Quản lý tài sản công tại các trường đại học là nhiệm vụ then chốt trong quản lý kinh tế giáo dục. Tài sản công bao gồm đất đai, nhà cửa, công trình hạ tầng, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị và công cụ dụng cụ. Tại các đơn vị sự nghiệp công lập, việc quản lý tài sản công phải tuân thủ pháp luật hiện hành. Mục tiêu chính là bảo toàn và phát huy giá trị tài sản phục vụ hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Thái Nguyên là cơ sở giáo dục lớn. Trường quản lý khối lượng tài sản đa dạng từ giảng đường, phòng thí nghiệm đến ký túc xá sinh viên. Quá trình quản lý đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban. Công tác kiểm kê, đánh giá tài sản định kỳ giúp nắm bắt chính xác hiện trạng. Từ đó đưa ra các quyết định đầu tư, sửa chữa hoặc thanh lý phù hợp. Quản lý hiệu quả giúp tiết kiệm ngân sách nhà nước và nâng cao chất lượng đào tạo.

1.1. Khái niệm tài sản công trong đơn vị sự nghiệp công lập

Tài sản công trong đơn vị sự nghiệp công lập là toàn bộ tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Các tài sản này được giao cho đơn vị quản lý và sử dụng phục vụ hoạt động sự nghiệp. Chúng bao gồm đất đai, nhà ở, công trình xây dựng, xe ô tô, máy móc thiết bị. Ngoài ra còn có công cụ dụng cụ và các tài sản khác theo quy định pháp luật. Việc quản lý tài sản công phải đảm bảo đúng mục đích và tiêu chuẩn định mức. Mỗi tài sản cần được theo dõi chặt chẽ từ khi tiếp nhận đến khi thanh lý.

1.2. Vai trò của quản lý tài sản công trong đào tạo đại học

Quản lý tài sản công đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đào tạo đại học. Tài sản đầy đủ và chất lượng giúp đảm bảo điều kiện giảng dạy và học tập. Hệ thống giảng đường hiện đại phục vụ việc truyền đạt kiến thức hiệu quả. Phòng thí nghiệm được trang bị đầy đủ thiết bị hỗ trợ nghiên cứu khoa học. Ký túc xá sạch sẽ tạo môi trường sinh hoạt tốt cho sinh viên. Quản lý tài sản công hiệu quả giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện.

II. Phân tích thực trạng quản lý tài sản công tại Đại học Khoa học

Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Thái Nguyên quản lý khối lượng tài sản lớn và đa dạng. Hệ thống tài sản bao gồm đất đai, nhà giảng đường, phòng thí nghiệm, ký túc xá và công cụ dụng cụ. Phòng Kế hoạch Tài chính chịu trách nhiệm chính trong quản lý tài sản toàn trường. Phòng Công tác HSSV quản lý khu ký túc xá sinh viên. Phòng Đào tạo phụ trách khối giảng đường và cơ sở vật chất đào tạo. Giai đoạn 2017-2019 cho thấy sự biến động về giá trị công cụ dụng cụ giữa các đơn vị. Một số khoa có giá trị tài sản tăng mạnh như Khoa Toán Tin và Khoa Công nghệ sinh học. Tuy nhiên một số đơn vị giảm đáng kể giá trị tài sản. Công tác kiểm kê định kỳ được thực hiện nhưng chưa đồng đều giữa các phòng ban. Việc cập nhật thông tin tài sản trên hệ thống quản lý còn nhiều hạn chế. Thực trạng này đòi hỏi các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công tại trường.

2.1. Tình hình quản lý đất đai và nhà công vụ tại trường

Đất đai và nhà công vụ là tài sản có giá trị lớn nhất tại Trường Đại học Khoa học. Trường được giao quản lý diện tích đất phục vụ giảng đường, ký túc xá và khu hiệu bộ. Công tác quản lý đất đai phải tuân thủ quy định pháp luật về đất đai hiện hành. Nhà công vụ bao gồm giảng đường, phòng thí nghiệm và văn phòng làm việc. Việc bảo trì và sửa chữa các công trình này được thực hiện theo kế hoạch hàng năm. Tuy nhiên một số công trình đã xuống cấp cần được đầu tư nâng cấp kịp thời.

2.2. Thực trạng quản lý công cụ dụng cụ và thiết bị tại các khoa

Công cụ dụng cụ tại các khoa phục vụ trực tiếp hoạt động giảng dạy và nghiên cứu. Giá trị công cụ dụng cụ phân theo đơn vị có sự chênh lệch lớn giữa các khoa. Khoa Toán Tin có giá trị công cụ dụng cụ cao nhất đạt 852.900 đồng năm 2019. Khoa Công nghệ sinh học cũng có mức đầu tư đáng kể với 594.800 đồng. Ngược lại một số khoa có giá trị công cụ dụng cụ giảm dần qua các năm. Việc phân bổ nguồn lực chưa đồng đều dẫn đến thiếu hụt tại một số đơn vị.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công tại trường

Nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Trước tiên cần hoàn thiện hệ thống quản lý tài sản bằng công nghệ thông tin. Việc số hóa thông tin tài sản giúp theo dõi và kiểm kê chính xác hơn. Thứ hai cần xây dựng quy trình quản lý tài sản rõ ràng và minh bạch. Mỗi tài sản cần có hồ sơ chi tiết từ khi tiếp nhận đến khi thanh lý. Thứ ba cần tăng cường công tác thanh tra kiểm tra tài sản định kỳ. Việc kiểm tra giúp phát hiện kịp thời các sai sót và xử lý nghiêm minh. Thứ tư cần đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý tài sản. Đội ngũ nhân viên cần nắm vững quy định pháp luật và kỹ năng quản lý hiện đại. Thứ năm cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban. Sự phối hợp tốt giúp tránh trùng lặp và lãng phí trong sử dụng tài sản công.

3.1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tài sản

Công nghệ thông tin là công cụ quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý tài sản. Hệ thống quản lý tài sản số giúp lưu trữ thông tin tập trung và dễ dàng truy cập. Việc sử dụng mã vạch hoặc RFID giúp kiểm kê tài sản nhanh chóng và chính xác. Phần mềm quản lý tự động cảnh báo khi tài sản đến hạn bảo trì hoặc thanh lý. Báo cáo tài sản được tổng hợp tự động phục vụ công tác quản lý quyết định. Ứng dụng công nghệ giúp giảm sai sót con người và tiết kiệm thời gian đáng kể.

3.2. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các phòng ban trong trường

Cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các phòng ban là yếu tố then chốt trong quản lý tài sản. Phòng Kế hoạch Tài chính cần phối hợp chặt chẽ với các khoa và phòng chuyên môn. Việc xây dựng quy trình liên thông giúp thông tin tài sản được cập nhật kịp thời. Các đơn vị cần có đầu mối phụ trách tài sản để chịu trách nhiệm trước ban giám hiệu. Họp giao ban định kỳ giúp giải quyết vướng mắc trong quản lý tài sản nhanh chóng. Cơ chế phối hợp tốt giúp tránh thất thoát và lãng phí tài sản công hiệu quả.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn quản lý tài sản công đại học

Nghiên cứu quản lý tài sản công tại Trường Đại học Khoa học cho thấy nhiều kết quả quan trọng. Trường đã xây dựng được hệ thống quản lý tài sản cơ bản đáp ứng yêu cầu đào tạo. Công tác kiểm kê định kỳ được thực hiện đảm bảo tính minh bạch trong quản lý. Tuy nhiên vẫn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới. Việc ứng dụng công nghệ thông tin còn chưa đồng bộ giữa các đơn vị. Cơ chế phối hợp giữa các phòng ban cần được hoàn thiện thêm. Đội ngũ cán bộ quản lý tài sản cần được đào tạo nâng cao nghiệp vụ thường xuyên. Kết luận này có ý nghĩa thực tiễn lớn cho các trường đại học trong cả nước. Các giải pháp đề xuất có thể áp dụng tại các đơn vị sự nghiệp công lập tương tự. Quản lý tài sản công hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học bền vững.

4.1. Ý nghĩa lý luận của nghiên cứu quản lý tài sản công

Nghiên cứu này đóng góp vào kho tàng lý luận về quản lý tài sản công giáo dục. Kết quả nghiên cứu bổ sung kiến thức thực tiễn về quản lý tài sản tại đại học. Mô hình phân tích áp dụng có thể sử dụng cho các nghiên cứu tương tự khác. Các chỉ tiêu đánh giá tài sản được hệ thống hóa phục vụ công tác nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng đảm bảo tính khoa học. Nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận mới trong quản lý tài sản công đại học hiện đại.

4.2. Khuyến nghị áp dụng cho các trường đại học trên toàn quốc

Các trường đại học trên toàn quốc có thể tham khảo mô hình quản lý tài sản từ nghiên cứu này. Việc xây dựng hệ thống quản lý tài sản số cần được ưu tiên đầu tư. Các trường nên thành lập ban quản lý tài sản chuyên trách chịu trách nhiệm toàn diện. Công tác đào tạo cán bộ quản lý tài sản cần được thực hiện thường xuyên và bài bản. Kiểm tra giám sát định kỳ giúp phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm. Áp dụng tốt các giải pháp giúp tiết kiệm ngân sách và nâng cao hiệu quả đào tạo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý tài sản công tại trường đại học khoa học đại học thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Cơ sở lý luận về quản lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm Theo Luật Viên chức năm 2010 có quy định đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.

ĐVSNCL gồm: - ĐVSNCL được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là ĐVSNCL được giao quyền tự chủ); - ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ). Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí phân loại ĐVSNCL đối với từng lĩnh vực sự nghiệp căn cứ vào khả năng tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và phạm vi hoạt động của ĐVSNCL. Căn cứ điều kiện cụ thể, yêu cầu quản lý đối với mỗi loại hình ĐVSNCL trong từng lĩnh vực, Chính phủ quy định việc thành lập, cơ cấu chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản lý trong ĐVSNCL, mối quan hệ giữa Hội đồng quản lý với người đứng đầu ĐVSNCL. Đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập Thứ nhất, ĐVSNCL là đơn vị thuộc của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, trong đó chủ yếu là các cơ quan nhà nước.

Thứ hai, ĐVSNCL là nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật để hoạt động. Tùy từng loại đơn vị sự nghiệp mà nhà nước có sự hỗ trợ ngân sách ở những mức độ khác nhau. Thứ ba, các ĐVSNCL được thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công trong những lĩnh vực mà Nhà nước chịu trách nhiệm cung ứng chủ yếu cho nhân 5 dân hoặc trong những lĩnh vực mà khu vực phi nhà nước không có khả năng đầu tư hoặc không quan tâm đầu tư. Thứ tư, cơ chế hoạt động của các ĐVSNCL đang ngày càng được đổi mới theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập.

Căn cứ vào cơ chế hoạt động, có thể phân loại ĐVSNCL thành ĐVSNCL được giao quyền tự chủ hoàn toàn về tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Thứ năm, các ĐVSNCL hoạt động theo chế độ thủ trưởng. Tuy nhiên, để đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, tránh tình trạng lạm quyền, vượt quyền đồng thời phòng chống tham nhũng, pháp luật quy định việc thành lập Hội đồng quản lý tại các ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và các ĐVSNCL khác trong trường hợp cần thiết. Thứ sáu, nhân sự tại ĐVSNCL chủ yếu được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc theo hợp đồng làm việc, được quản lý, sử dụng với tư cách là viên chức.

Trong khi đó, người đứng đầu ĐVSNCL (và trong nhiều trường hợp gồm cả thành viên trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị) là công chức. Khái quát về quản lý tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập 1. Tài sản công Khái niệm TSC là tài sản được đầu tư, mua sắm từ nguồn NSNN, hoặc có nguồn gốc từ NSNN. Ở Việt Nam, TSC được quan niệm là công sản - tài sản thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 53 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 thì TSC là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản công tại doanh 6 nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài nguyên khác. Các cơ quan nhà nước, các tổ chức cũng như mọi công dân Việt Nam đều có quyền và nghĩa vụ quản lý, bảo vệ TSC theo đúng chế độ do Nhà nước quy định. Mọi sự vi phạm vào TSC đều phạm tội xâm phạm tài sản quốc gia, tài sản xã hội chủ nghĩa.

TSC bao gồm tất cả các tài sản (động sản và bất động sản) thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý để sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của toàn dân. Đặc điểm TSC có những đặc điểm chính như sau: - Quyền sở hữu và quyền sử dụng TSC có sự tách rời, nghĩa là quyền sở hữu tài sản thuộc về Nhà nước, còn quyền sử dụng được thực hiện bởi từng ĐVSNCL và các tổ chức. - Về mục đích sử dụng: TSC được sử dụng phục vụ hoạt động của các ĐVSNCL và các tổ chức phục vụ lợi ích chung của đất nước, của nhân dân. - Về chế độ quản lý: Nhà nước là chủ thể quản lý TSC, ở tầm vĩ mô tài sản công được quản lý thống nhất theo pháp luật của nhà nước, ở tầm vi mô được Nhà nước giao cho các ĐVSNCL và các tổ chức quản lý, sử dụng theo quy định, chế độ của Nhà nước.

ĐVSNCL và các tổ chức được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, sử dụng TSC lại không phải là người có quyền sở hữu tài sản; do đó nếu không quản lý chặt chẽ thì sẽ dẫn đến việc sử dụng TSC lãng phí, thất thoát. - TSC rất đa dạng và phong phú, được phân bố rộng trên phạm vi cả nước; mỗi loại tài sản có tính năng, công dụng khác nhau và được sử dụng vào các mục đích khác nhau, được đánh giá hiệu quả theo những tiêu thức khác nhau; TSC nhiều về số lượng, lớn về giá trị và mỗi loại tài sản lại có giá trị sử dụng khác nhau, thời hạn sử dụng khác nhau… TSC có loại không có khả năng tái tạo được, phải bảo tồn để phát triển; do đó việc quản lý đối với mỗi loại tài sản cũng có những đặc điểm khác nhau. - Giá trị của TSC giảm dần trong quá trình sử dụng; phần giá trị giảm dần đó được xem là yếu tố chi phí để tạo ra các sản phẩm dịch vụ công. Phân loại 7 Có thể phân chia TSC thành các loại như sau Một là, TSC phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, ĐVSNCL, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật.

Hai là, tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng là các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, công trình kết cấu hạ tầng xã hội và vùng đất, vùng nước, vùng biển gắn với công trình kết cấu hạ tầng. Ba là, TSC tại doanh nghiệp; Bốn là, tài sản của dự án sử dụng vốn nhà nước; Năm là, tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo quy định của pháp luật. Sáu là, tiền thuộc NSNN, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và dự trữ ngoại hối nhà nước; Bảy là, đất đai; tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, kho số viễn thông và kho số khác phục vụ quản lý nhà nước, tài nguyên Internet, phổ tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh và các tài nguyên khác do Nhà nước quản lý theo quy định của pháp luật. Vai trò TSC là một bộ phận của tài sản quốc gia, là tiềm lực phát triển đất nước như 1 Bác Hồ đã khẳng định : “Tài sản công là nền tảng, là vốn liếng để khôi phục và xây dựng kinh tế chung, để làm cho dân giàu, nước mạnh, để nâng cao đời sống nhân dân”.

Vai trò của TSC có thể được xem xét dưới nhiều khía cạnh: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,. ở đây, luận văn chỉ đề cập đến vai trò kinh tế của nó. Theo đó TSC có những vai trò chủ yếu sau: Thứ nhất, TSC là một bộ phận nền tảng vật chất quan trọng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của của các ĐVSNCL. Đây chính là nền tảng vật chất căn bản để nhà 1 Nguồn: http://tapchitaichinh.vn/Tap-trung-cai-thien-moi-truong-dau-tu-kinh-doanh/cuc-quan-ly-cong-san- phat-huy-tot-vai-tro-quan-ly-khai-thac-nguon-luc-tai-chinh-tu-tai-san-cong-100920.html 8 nước tồn tại, hay nói rộng hơn đây là môi trường và là điều kiện đảm bảo sự tồn vong cho một chế độ xã hội.

Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy hầu hết các nhà nước bị sụp đổ khi không còn kiểm soát được quyền lực công, trong đó có quyền lực về TSC. Thông qua cuộc cách mạng xã hội, quyền lực công chuyển dịch sang tay nhà nước mới. Nhà nước mới ra đời tiếp quản và sử dụng ngay toàn bộ cơ sở vật chất của nhà nước tiền nhiệm làm cơ sở sinh tồn của mình. Trên nền tảng vật chất này, Nhà nước triển khai các hoạt động thuộc chức năng của mình để kiểm soát, quản lý KTXH của đất nước.

Mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở, gắn liền với việc sử dụng TSC. Với phạm virộng lớn, phong phú về chủng loại, đa dạng về công dụng, TSC trực tiếp giúp cho hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước thực hiện được trôi chảy liên tục và thông suốt. Công năng của từng tài sản liên tục phát huy tác dụng góp phần làm nên thành quả hoạt động của nhà nước. Tài sản làm việc chính là nơi hiện diện của chính quyền nhà nước, nơi làm việc hàng ngày của các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước - nơi diễn ra các giao dịch của nhà nước với dân chúng, nơi quyền lực của nhà nước được thực thi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ