Tổng quan nghiên cứu

Thống kê thực trạng phát triển kinh tế cho thấy tính đến ngày 01/9/1999, Việt Nam có tới 65% số lượng doanh nghiệp nhà nước sở hữu quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng, và hơn 60% tổng số doanh nghiệp thuộc quyền quản lý trực tiếp của chính quyền địa phương. Trong tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế quản trị khu vực kinh tế nhà nước bộc lộ nhiều rào cản lớn. Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự chồng chéo giữa chức năng quản lý hành chính của cơ quan công quyền và quyền năng của chủ sở hữu vốn, dẫn đến tình trạng can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh và duy trì bao cấp kéo dài.

Mục tiêu cụ thể của công trình là phân định rõ ràng ranh giới pháp lý giữa quản lý nhà nước về kinh tế và quyền đại diện chủ sở hữu, đánh giá toàn diện hệ thống quy phạm từ Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 đến Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp thể chế đồng bộ. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển giao từ năm 1995 đến năm 2004, khảo sát chuyên sâu khu vực xây dựng vốn chiếm khoảng 33% tổng số doanh nghiệp nhà nước trên toàn quốc.

Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đóng vai trò tiền đề để tái cơ cấu hơn 5.600 doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn này, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp có quy mô vốn trên 10 tỷ đồng từ mức 21% lên trên 50%, đồng thời triệt tiêu 100% các can thiệp hành chính trực tiếp ngoài luật vào quyền tự chủ thương mại của doanh nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết thể chế kinh tế về quyền sở hữu tài sản pháp nhân và Lý thuyết quản trị tổ chức hiện đại. Khung phân tích vận dụng mô hình phân tách hai tầng quyền lực kinh tế: tầng quản lý vĩ mô bằng công cụ pháp luật, chính sách của cơ quan công quyền và tầng thực thi quyền sở hữu vốn thông qua các phương thức kinh tế thị trường.

Các khái niệm chính được xác lập bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước theo nghĩa hẹp là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ; Quyền sở hữu độc lập của pháp nhân theo quy định tại Điều 94 và Điều 173 Bộ luật Dân sự năm 1995; Quản lý kinh tế của nhà nước với tư cách cơ quan công quyền; Quản trị doanh nghiệp nội bộ do bộ máy điều hành đảm trách; Thiết chế đại diện sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn khai thác hệ thống dữ liệu sơ cấp và thứ cấp từ các báo cáo tổng kết của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, cùng hệ thống văn bản pháp lý gồm Hiến pháp năm 1992, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và hơn 20 nghị định liên quan. Các phương pháp phân tích cốt lõi gồm phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phân tích logic, so sánh luật học và phương pháp trừu tượng hóa khoa học.

Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên cỡ mẫu 300 doanh nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực xây dựng, chiếm tỷ trọng khoảng 33% trong tổng số doanh nghiệp nhà nước cả nước, thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích. Lĩnh vực xây dựng được lựa chọn vì có mật độ doanh nghiệp dày đặc ở cả cấp trung ương lẫn địa phương, phản ánh rõ nét nhất tác động của cơ chế chủ quản và cấp phát vốn đầu tư công. Toàn bộ timeline thu thập dữ liệu và xử lý quy phạm được thực hiện liên tục trong thời gian 5 năm, từ năm 1999 đến đầu năm 2004, đảm bảo tính cập nhật tại thời điểm giao thoa giữa hai đạo luật kinh tế lớn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu ngành nghề và quy mô vốn của doanh nghiệp nhà nước bộc lộ sự phân tán nghiêm trọng. Số liệu tính đến tháng 9/1999 chỉ ra rằng khu vực thương mại, dịch vụ chiếm tới 40% và nông nghiệp chiếm 25% tổng số doanh nghiệp nhà nước, trong khi công nghiệp chế biến chế tạo then chốt chỉ chiếm chưa đầy 35%. Về mặt quy mô, 65% doanh nghiệp có mức vốn dưới 5 tỷ đồng, trong đó 1.314 doanh nghiệp (tương đương 23%) có vốn dưới 1 tỷ đồng, và chỉ có 21% doanh nghiệp đạt mức vốn trên 10 tỷ đồng.

Thứ hai, mô hình phân cấp quản lý hành chính dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải. Tỷ trọng doanh nghiệp trực thuộc chính quyền địa phương quản lý chiếm trên 60% về số lượng. Cơ chế giao quyền thành lập cho các bộ và ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo Điều 15 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 đã tạo ra làn sóng thành lập các đơn vị kinh tế quy mô nhỏ lẻ, thiếu tính bền vững và phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách.

Thứ ba, quyền tự chủ tài sản của pháp nhân kinh tế bị xâm hại do đồng nhất quyền sở hữu vốn. Dù luật định doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, các cơ quan chủ quản vẫn duy trì quyền can thiệp vào các dự án đầu tư có giá trị từ 30% đến trên 50% tổng tài sản trên sổ sách kế toán, tước bỏ quyền định đoạt tài sản thực tế của doanh nghiệp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nêu trên bắt nguồn từ tư duy hành chính bao cấp kéo dài và sự thiếu vắng một chủ thể kinh doanh vốn chuyên trách. Sự lúng túng trong việc xác định tư cách pháp nhân khiến doanh nghiệp nhà nước rơi vào trạng thái vô chủ về mặt trách nhiệm tài sản, dẫn đến thất thoát kéo dài nhưng không cá nhân nào chịu trách nhiệm cụ thể. Khi so sánh với tiến trình cải cách doanh nghiệp nhà nước tại một số quốc gia chuyển đổi có điều kiện tương đồng, sự chậm trễ trong việc xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản đã làm giảm khoảng 30% tốc độ tái cơ cấu kinh tế trong giai đoạn 1995-2000.

Để làm rõ bức tranh phân bổ, toàn bộ dữ liệu có thể được thể hiện trực quan qua biểu đồ tròn phản ánh tỷ lệ vốn (nhóm dưới 1 tỷ đồng chiếm 23%, nhóm từ 1 đến 5 tỷ đồng chiếm 42%, nhóm từ 5 đến 10 tỷ đồng chiếm 14%, nhóm trên 10 tỷ đồng chiếm 21%) và bảng ma trận đối chiếu thẩm quyền quyết định dự án đầu tư giữa mô hình Tổng công ty 90, Tổng công ty 91 và Công ty nhà nước độc lập. Việc phân tích này khẳng định tính cấp thiết của việc tách bạch chức năng công quyền khỏi quyền quản trị kinh doanh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thành lập tổ chức chuyên trách kinh doanh vốn nhà nước. Chính phủ và Bộ Tài chính cần khẩn trương thiết lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước trong giai đoạn 2004-2005 nhằm thực hiện 100% quyền đại diện chủ sở hữu vốn tại các doanh nghiệp sau chuyển đổi, tách bạch hoàn toàn chức năng này khỏi các bộ quản lý ngành và ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Thứ hai, đẩy nhanh lộ trình cổ phần hóa và sắp xếp lại danh mục doanh nghiệp. Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp cần đặt mục tiêu trong thời gian 3 năm từ 2004 đến 2007 hoàn tất cổ phần hóa tối thiểu 60% số doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn dưới 5 tỷ đồng, chỉ duy trì 100% vốn nhà nước tại các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và hạ tầng kinh tế kỹ thuật thiết yếu.

Thứ ba, trao quyền tự chủ toàn diện về tài sản cho pháp nhân doanh nghiệp. Bộ Tư pháp cùng các cơ quan liên quan cần sửa đổi các quy chế tài chính, nâng mức tự chủ phê duyệt dự án đầu tư của Hội đồng quản trị lên trên 50% tổng giá trị tài sản, đồng thời cắt giảm tối thiểu 80% thời gian thẩm định hành chính rườm rà trước năm 2006.

Thứ tư, hoàn thiện khung pháp lý thống nhất hướng tới áp dụng Luật Doanh nghiệp chung. Quốc hội và Chính phủ cần đặt lộ trình đến năm 2010 chuyển đổi 100% công ty nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty cổ phần, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng với khu vực kinh tế tư nhân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách kinh tế gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân các tỉnh. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng 6 nhóm giải pháp thể chế trong công trình để xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và Luật Doanh nghiệp năm 2005.

Thứ hai, ban điều hành, Hội đồng quản trị các tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn. Luận văn cung cấp khung tham chiếu rõ ràng giúp các nhà quản trị phân định quyền điều hành nội bộ với nghĩa vụ báo cáo, tối ưu hóa tỷ suất sinh lời trên 100% vốn điều lệ được giao.

Thứ ba, chuyên gia tư vấn tái cấu trúc và luật sư chuyên ngành luật kinh tế. Đây là tài liệu giá trị để xây dựng phương án chuyển đổi sở hữu, định giá tài sản và xử lý tranh chấp nghĩa vụ tài chính cho hơn 1.000 doanh nghiệp bước vào tiến trình cổ phần hóa.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành luật học. Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu khảo sát từ 300 doanh nghiệp và hệ thống luận điểm sâu sắc về quyền tài sản pháp nhân phục vụ đào tạo và phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Quản lý nhà nước về kinh tế khác với quyền của chủ sở hữu nhà nước như thế nào?
Quản lý nhà nước mang tính quyền lực công, sử dụng công cụ pháp luật để điều tiết vĩ mô toàn bộ nền kinh tế bình đẳng. Quyền chủ sở hữu mang tính chất quyền tài sản dân sự, tác động bằng phương pháp kinh tế nhằm mục tiêu bảo toàn và phát triển 100% vốn đầu tư.

Tại sao tác giả đề xuất thu hẹp khái niệm doanh nghiệp nhà nước?
Việc mở rộng khái niệm sang cả công ty cổ phần có vốn chi phối sẽ duy trì cơ chế can thiệp hành chính. Thu hẹp khái niệm về phạm vi doanh nghiệp sở hữu 100% vốn giúp giải phóng quyền tự chủ kinh doanh cho các doanh nghiệp sau cổ phần hóa.

Thực trạng quy mô vốn ảnh hưởng thế nào đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước?
Với 65% doanh nghiệp có mức vốn dưới 5 tỷ đồng và 23% có vốn dưới 1 tỷ đồng, phần lớn doanh nghiệp nhà nước có quy mô manh mún, công nghệ lạc hậu, không đủ năng lực dẫn dắt thị trường nếu không có bao cấp.

Mô hình Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước đóng vai trò gì?
Mô hình này là một pháp nhân kinh doanh vốn độc lập, đại diện cho phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, giúp xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản và chấm dứt việc cơ quan hành chính can thiệp trực tiếp vào quản trị kinh doanh.

Doanh nghiệp nhà nước có quyền sở hữu đối với tài sản được giao hay không?
Theo Điều 94 và Điều 173 Bộ luật Dân sự, sau khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp là pháp nhân sở hữu độc lập khối tài sản và vốn điều lệ, có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong khuôn khổ pháp luật.

Kết luận

  • Phân định rõ ràng chức năng quản lý vĩ mô của nhà nước bằng pháp luật và quyền đại diện chủ sở hữu vốn của nhà nước là đòi hỏi tất yếu của kinh tế thị trường.
  • Hệ thống dữ liệu chỉ ra 65% doanh nghiệp nhà nước có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng và trên 60% trực thuộc địa phương, đòi hỏi phải tái cơ cấu cấp bách.
  • Khẳng định quyền sở hữu tài sản độc lập của pháp nhân doanh nghiệp nhà nước sau khi được đầu tư vốn và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
  • Đề xuất mô hình thiết chế kinh doanh vốn chuyên trách nhằm xóa bỏ hoàn toàn cơ chế bộ chủ quản can thiệp vào hoạt động điều hành sản xuất.
  • Xác lập lộ trình chuyển đổi 100% doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động thống nhất theo Luật Doanh nghiệp trước năm 2010 nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học vững chắc làm sáng tỏ bản chất quyền tài sản pháp nhân của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các nhà hoạch định chính sách cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ nghị định hướng dẫn thi hành trong giai đoạn 2004-2006 để vận hành hiệu quả mô hình tổng công ty đầu tư vốn. Hãy tham khảo toàn văn luận văn tại thư viện cơ sở đào tạo để nắm bắt đầy đủ các giải pháp thể chế phục vụ công cuộc đổi mới doanh nghiệp nhà nước.