Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý công tác giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật trong trường tiểu học. - Chương 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục hoà nhập học sinh khuyết tật tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn thành phó Đà Nẵng. - Chương 3: Biện pháp quản lý công tác giáo dục hoà nhập học sinh khuyết tật tại các trường tiêu học trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng. + Kết luận và khuyến nghị + Tài liệu tham khảo và Phụ lục CHUONG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CUA QUAN LY CONG TÁC GDHN HQC SINH KHUYET TAT TRONG TRUONG TIỂU HỌC 1.
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VAN DE 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trong hơn bốn thế kỷ qua, tuỳ thuộc vào sự phát triển của từng thời kỳ lịch sử, giáo dục học sinh KT đã trải qua ba mô hình giáo dục khác nhau. Thế kỷ XVI, mô hình giáo dục chuyên biệt ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới của giáo dục học sinh KT với tính tích cực, ưu việt và phù hợp với tính lịch sử của nó. Đến những năm 40 của thế kỷ XX một mô hình giáo dục học sinh KT ra đời: mô hình giáo dục hội nhập với đổi mới tích cực hơn.
Cũng trong những năm 70 của thế kỷ XX, mô hình GDHN được ra đời. Tir sau nim 1994, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về GDHN, cách thức tổ chức và quản lý GDHN.Brohier (1994) đã đề nghị: Cần theo dõi và đánh giá thường xuyên sự tiến triển của các chương trình GDHN nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Trong nghiên cứu của mình tác giả đã đề cập và nêu ra những mục tiêu chung nhất về GDHN, cách thức thực hiện, các điều kiện đảm bảo cho. thực hiện GDHN và những tiêu chí đánh giá công việc này.
Sudesh Mukhopadhyagy (1999) cũng đã kết luận: Việc nhận dạng và phát hiện học sinh KT cần được phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong nước và các tô chức phi Chính phủ. Việc làm này cần được đưa vào kế hoạch của mỗi năm học và được xem như một phan của kế hoạch giáo dục chung của nhà trường. Ý kiến trên được tác giả nêu ra dựa trên cơ sở nghiên cứu, mô tả và định ra những tiêu chí phân loại KT, mức độ tật. Với những khuyến nghị công tác nhận dạng và phát hiện học sinh KT cần được thực hiện một cách có kế hoạch, định kỳ và tham gia của các tổ chức, cơ quan chuyên môn.
Đồng thời cũng định hướng chung cho việc thực hiện GDHN trong trường phổ thông trên cơ sở xây dựng kế hoạch thực hiện năm học của mỗi nhà trường. Peter Mittler đã nhận định: Thay đổi môi trường giáo dục nhà trường và hệ thống giáo dục là rất quan trọng đối với GDHN. Việc thay đổi này bao gồm việc sửa đổi chương trình và phương pháp dạy học, thúc đây mối quan hệ giữa thầy và trò, tạo cơ hội để mọi trẻ được học tập cùng nhau và thúc đây sự tham gia của phụ huynh. Nhận định trên được đưa ra sau khi tác giả đã dành sự quan tâm và chú ý của mình vào việc thay đổi, tạo môi trường giáo.
dục thích hợp cho việc thực hiện GDHN. Trong đó đặt ra các vấn đề hết sức cụ thể như chương trình cần được điều chỉnh và sắp xếp thế nào cho phù hợp; giáo viên cần lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học như thế nào, các phương pháp dạy học đang được thực hiện trong trường phổ thông có đảm bảo cho học sinh KT học hoà nhập; sự tác động can thiệp, hỗ trợ từ phía giáo viên và vai trò, sự tham gia của phụ huynh học sinh học sinh KT cũng như trẻ bình thường. Prubudddha Bharata (2005) cho rằng: Đề GDHN đạt hiệu quả, cần chú ý vào ba lĩnh vực sau: Các chương trình giáo dục phô thông và các chương trình giáo dục đặc biệt, chuẩn bị và cung cấp các thiết ¡, dụng cụ hỗ trợ giảng dạy, phát triển các kỹ năng bổ sung như: đọc, viết chữ định hướng di chuyển, kỹ năng sinh hoạt hàng ngày. Tác giả đã hướng nhiều đến thực hiện chương trình giáo dục trong GDHN, đặt ra các vấn đề như GDHN được thực hiện chương trình giáo dục phổ thông có điều chỉnh hay có thêm chương trình giáo.
dục đặc biệt bên cạnh chương trình giáo dục phổ thông; sự cần thiết của các phương tiện, thiết bị đồ dùng dạy học và các kỹ năng đặc thù hỗ trợ cho GDHN. Ông cũng cho rằng kỹ năng xã hội, kỹ năng sống là mục tiêu hết sức. quan trọng mà GDHN cần đạt được. Sandra Lewis va Carol B.
Allman: Sau khi gido duc chuyén biét Ổn định cần hướng tới GDHN. GDHN với chương trình, sự hỗ trợ, cách đánh giá đúng. sẽ tạo được sự độc lập cho học sinh KT. Quan điểm của tác giả được thể hiện rất rõ coi GDHN là mô hình giáo dục tối ưu nhất dành cho học sinh KT.
Từ việc đặt ra và thực hiện tốt ba yếu tố: chương trình giáo dục; tác động hỗ trợ từ các lực lượng trong và ngoài nhà trường; đánh giá về kiến thức, kỹ năng. Sẽ đảm bảo được sự hoà nhập và độc lập của học sinh KT trong và sau khi ra trường. Nhìn chung các nghiên cứu mới chỉ tập trung ở việc nghiên cứu mô hình GDHN học sinh KT và cách thức tổ chức, điều kiện thực hiện. mà chưa có những nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề quản lý việc thực hiện GDHN trong.
nhà trường phô thông nói chung, nhà trường tiêu học nói riêng. Những nghiên cứu ở Việt Nam Lê Thị Thuý Hằng với đề tài “Một số biện pháp tổ chức GDHN cho học. sinh KT trong trường tiểu học hiện nay”. Trong nghiên cứu của mình trên cơ sở nghiên cứu lý luận về công tác tô chức, tô chức trong nhà trường phô thông, và tổ chức GDHN.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác tô chức GDHN tại một số huyện, tác giả đã đưa ra một số giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh KT trong trường tiểu học [13]. Huỳnh Ngọc Trà: với đề tài “Các biện pháp quản lý GDHN học sinh KT ở bậc tiểu học tỉnh Quảng Nam”. Tác giả đã đề cập đến các vấn đẻ về quản lý, quản lý GDHN cho học sinh KT ở cấp tiểu học trên địa bàn một tỉnh. Từ đó đề xuất sáu giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng, hiệu quả GDHN học.
sinh KT cấp tiểu học tại tỉnh Quảng Nam [24] Hà Thanh Vân nghiên cứu “Một số biện pháp quản lý GDHN học sinh khiếm thị của hiệu trưởng các trường tiểu học ở TP Hồ Chí Minh”. Trong phần trình bày của mình, tác giả dành sự quan tâm và tập trung nghiên cứu vào đối tượng trẻ khiếm thị. Thực trạng về nhận thức; liều kiện cơ sở vat chất cơ sở thiết bị; hoàn cảnh; pháp quản lý. đối với GDHN trẻ khiếm thị cấp tiểu học.
Đề xuất được các giải pháp quản lý GDHN trẻ khiếm thị của hiệu trưởng các trường tiểu học tại Tp. Hồ Chí Minh [28] Nhìn chung các tác giả nêu trên đã nghiên cứu và đề cập đến việc tổ chức và quản lý GDHN cho học sinh KT trong trường tiểu học từ khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên tất cả các công trình nghiên cứu trên chưa có công. trình nào nghiên cứu về quản lý việc thực hiện GDHN cho học sinh KT trong trường tiểu học thuộc phạm vi cấp quận huyện.
Do vậy, việc nghiên cứu của luận văn sẽ góp phan bé sung về lý luận và thực tiễn cho công tác quản lý GDHN cho học sinh KT ở cấp tiểu học. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ 1. Quản lý Nha nghiên cứu về quản lý nỗi tiếng thế giới Harold Koontz cho rang: "Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu đã định" [10; tr.G cho rằng: "Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thê và cá nhân, thúc. đây sự tiến bộ của cả tập thê và cá nhân" [I; tr.
Vũ Ngọc Hải đã viết : "Tắt cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động. chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để liều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [14; tr. Hiện nay thuật ngữ “Quản lý” đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất.
Tuy nhiên theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người, nhiều người cho rằng: quản lý chính là các hoạt động do một người hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, là tổ chức và khiển các hoạt động, theo những điều kiện nhất định [26; tr.772] Nguyễn Bá Dương cho rằng: "Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thẻ và đối tượng quản lý qua con đường tổ chức, là sự tác động điều khiển tâm lý và hành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào việc hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội" [12; tr. Từ những ý chung của những định nghĩa trên và xét quản lý với tư cách là một hoạt động, theo tác giả sử dụng định nghĩa sau trong nghiên cứu của mình: Quản lý là sự tác động có tô chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra [12; tr. 12 Quản lý giáo dục Giáo dục cũng như các lĩnh vực khác, là hiện tượng xã hội đặc biệt, vì vậy quản lý trong giáo dục có vai trò quan trọng đặc biệt.
Vấn đề quản lý trong giáo dục luôn là vấn đề thời sự, cấp bách vì giáo dục có ảnh hưởng sâu sắc trực tiếp tới toàn xã h: tới mọi gia đình. Khái niệm về quản lý giáo dục cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Học giả nỗi tiếng Khuđôminxki.