Luận văn Thạc sĩ Luật: quản lý giáo dục biện pháp quản lý công tác nghiên

Luận văn thạc sĩ: Biện pháp quản lý công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Luật, Đại học Quốc gia Lào. Tóm tắt và phân tích chuyên sâu.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

108
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục tại Lào

Nghiên cứu khoa học là một trong hai nhiệm vụ chính của trường đại học, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Đối với sinh viên, hoạt động này là hình thức tổ chức dạy học bắt buộc để vận dụng tri thức nghề nghiệp vào thực tiễn. Luận văn của tác giả Xaysena Konekeochay (2014) đã tập trung phân tích các biện pháp quản lý nhằm thúc đẩy nghiên cứu khoa học sinh viên tại Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Lào. Đây là công trình có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý luận quản lý giáo dục và áp dụng vào thực tế môi trường đào tạo pháp luật tại Lào. Việc quản lý tốt công tác này không chỉ giúp sinh viên nắm vững kiến thức mà còn hình thành năng lực nghiên cứu độc lập, chuẩn bị cho sự nghiệp chuyên gia pháp lý trong tương lai.

1.1. Cơ sở lý luận quản lý giáo dục về công tác NCKH

Hệ thống cơ sở lý luận quản lý giáo dục xác định quản lý nghiên cứu khoa học sinh viên là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến sinh viên. Quá trình này bao gồm các chức năng cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra - đánh giá. Theo tài liệu gốc, hoạt động NCKH giúp sinh viên chuyển quá trình đào tạo thành tự đào tạo, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo và tính độc lập.

1.2. Vai trò của nghiên cứu khoa học sinh viên Khoa Luật

Tại Khoa Luật, hoạt động NCKH có đặc thù riêng gắn liền với việc giải quyết các vấn đề pháp lý thực tiễn. Sinh viên tham gia nghiên cứu sẽ được vũ trang năng lực sáng tạo và phương pháp nhận thức khách quan. Điều này góp phần thực hiện nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội”, đồng thời nâng cao uy tín đào tạo của Đại học Quốc gia Lào trên trường quốc tế.

II. Thách thức trong quản lý nghiên cứu khoa học sinh viên

Thực trạng tại Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Lào cho thấy công tác quản lý vẫn còn nhiều bất cập cần giải quyết. Mặc dù số lượng sinh viên tham gia có sự tăng trưởng, nhưng chất lượng các đề tài nghiên cứu khoa học vẫn chưa đồng đều. Các công trình thường mang nặng tính lý thuyết, thiếu sự đột phá trong ứng dụng thực tiễn pháp luật. Bên cạnh đó, môi trường học thuật chưa đủ mạnh để kích thích sự đam mê nghiên cứu tự thân của sinh viên. Những rào cản về tài liệu tham khảo bằng tiếng Lào và hệ thống thông tin hạn chế đã gây khó khăn lớn cho quá trình thực hiện công việc chuyên môn của cả giảng viên và người học.

2.1. Hạn chế về năng lực nghiên cứu của sinh viên Lào

Nhiều sinh viên tại Khoa Luật còn lúng túng khi vận dụng các phương pháp nghiên cứu vào thực tế. Một bộ phận không nhỏ chưa nắm chắc kỹ năng phân tích, tổng hợp tài liệu và viết báo cáo khoa học. Theo khảo sát từ tài liệu gốc, tỷ lệ sinh viên chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của hoạt động NCKH vẫn còn cao, dẫn đến thái độ tham gia thụ động và thiếu tính tự giác.

2.2. Khó khăn trong công tác giảng viên hướng dẫn NCKH

Đội ngũ giảng viên hướng dẫn đóng vai trò then chốt nhưng lại đang đối mặt với tình trạng quá tải trong giảng dạy. Nhiều giảng viên trẻ thiếu kinh nghiệm và kỹ năng hướng dẫn chuyên sâu về phương pháp luận. Sự phối hợp giữa các phòng ban chức năng và khoa chuyên môn đôi khi chưa nhịp nhàng, làm chậm trễ quá trình phê duyệt và triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên.

III. Bí quyết lập kế hoạch quản lý hoạt động NCKH hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả, việc kế hoạch hóa công tác nghiên cứu khoa học sinh viên phải được ưu tiên hàng đầu. Kế hoạch cần được xây dựng dựa trên sự phân tích kỹ lưỡng các nguồn lực thực có của Đại học Quốc gia Lào. Một kế hoạch khoa học phải xác định rõ mục tiêu, nội dung, thời gian thực hiện và các chính sách hỗ trợ nghiên cứu đi kèm. Việc cụ thể hóa các mốc thời gian từ khâu đăng ký đề tài đến khi nghiệm thu sẽ giúp sinh viên và giảng viên chủ động hơn. Đặc biệt, kế hoạch này phải gắn liền với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện của nhà trường, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với đặc thù ngành luật.

3.1. Xây dựng chính sách hỗ trợ nghiên cứu khoa học

Nhà trường cần ban hành các văn bản quy định rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm của sinh viên khi tham gia nghiên cứu. Các chính sách hỗ trợ nghiên cứu bao gồm hỗ trợ kinh phí, ưu tiên sử dụng thư viện và cộng điểm rèn luyện. Việc khen thưởng kịp thời các cá nhân xuất sắc thông qua kỷ yếu khoa học sinh viên sẽ tạo động lực tinh thần to lớn, thúc đẩy phong trào nghiên cứu phát triển bền vững.

3.2. Nâng cao nhận thức về quản lý giáo dục cho cán bộ

Cần tổ chức các buổi tọa đàm nhằm quán triệt tầm quan trọng của quản lý giáo dục trong hoạt động khoa học. Cán bộ quản lý phải nhận thức rõ NCKH không chỉ là hoạt động phụ trợ mà là động lực chính để nâng cao vị thế nhà trường. Khi nhận thức được chuẩn hóa, các quyết định chỉ đạo sẽ mang tính thống nhất và quyết liệt hơn, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sinh viên phát huy trí tuệ.

IV. Cách cải tiến tổ chức quản lý nghiên cứu khoa học Luật

Cải tiến tổ chức là biện pháp quản lý mang tính đột phá để tối ưu hóa nguồn lực. Nhà trường cần kiện toàn bộ máy quản lý khoa học từ cấp trường đến cấp khoa, bố trí cán bộ chuyên trách có năng lực. Việc đổi mới phương thức triển khai theo hướng tăng cường tính chủ động cho sinh viên là cần thiết. Thay vì áp đặt đề tài, hãy để sinh viên tự đề xuất dựa trên các vấn đề pháp lý nóng hổi. Đồng thời, việc xây dựng một môi trường học thuật cởi mở, nơi giảng viên và sinh viên có thể trao đổi tự do về các ý tưởng mới, sẽ là nền tảng vững chắc cho những công trình nghiên cứu chất lượng cao trong tương lai.

4.1. Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu cho giảng viên và sinh viên

Tổ chức định kỳ các lớp tập huấn về phương pháp luận nghiên cứu cho cả giảng viên hướng dẫn và sinh viên. Nội dung tập trung vào kỹ năng tìm kiếm thông tin, sử dụng phần mềm phân tích và cách thức trình bày báo cáo. Khi năng lực nghiên cứu được nâng cao, chất lượng các sản phẩm khoa học sẽ có sự cải thiện rõ rệt, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của hội đồng đánh giá.

4.2. Ứng dụng công nghệ trong quản lý hoạt động học tập

Việc số hóa quy trình quản lý từ đăng ký đến nộp báo cáo sẽ giúp tiết kiệm thời gian và tăng tính minh bạch. Hệ thống quản lý trực tuyến cho phép sinh viên theo dõi tiến độ và nhận phản hồi từ giảng viên nhanh chóng. Đây là bước đi quan trọng trong việc hiện đại hóa quản lý hoạt động học tập tại Khoa Luật, phù hợp với xu thế chuyển đổi số trong giáo dục đại học hiện nay.

V. Kết quả ứng dụng biện pháp quản lý giáo dục thực tế

Kết quả khảo nghiệm cho thấy các biện pháp đề xuất trong luận văn có tính cấp thiết và khả thi rất cao (điểm trung bình trên 4.0). Khi áp dụng đồng bộ các chức năng quản lý, tỷ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học sinh viên tại Đại học Quốc gia Lào đã có những chuyển biến tích cực. Chất lượng các đề tài được hội đồng đánh giá tốt hơn, thể hiện qua sự sắc sảo trong lập luận pháp lý và tính thực tiễn cao. Việc xuất bản kỷ yếu khoa học sinh viên thường niên không chỉ giúp lưu giữ các công trình quý giá mà còn lan tỏa giá trị học thuật đến cộng đồng, góp phần khẳng định uy tín của Khoa Luật trong hệ thống giáo dục quốc gia.

5.1. Đánh giá hiệu quả của các biện pháp quản lý mới

Thông qua số liệu thống kê, các biện pháp như nâng cao nhận thức và đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất đem lại hiệu quả rõ rệt nhất. Sinh viên cảm thấy được hỗ trợ tối đa về môi trường học thuật và tài liệu tham khảo, từ đó tự tin hơn trong việc đề xuất các đề tài nghiên cứu khoa học mới. Sự hài lòng của giảng viên về quy trình quản lý cũng tăng lên, tạo không khí làm việc hăng say.

5.2. Sự phát triển năng lực nghiên cứu của sinh viên Luật

Sinh viên sau khi tham gia nghiên cứu đã có sự trưởng thành vượt bậc về tư duy logic và kỹ năng giải quyết vấn đề. Nhiều em đã có khả năng viết bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành hoặc tham gia các hội thảo quốc tế. Đây chính là minh chứng rõ nhất cho việc nâng cao chất lượng đào tạo thông qua hoạt động khoa học, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước Lào.

VI. Tầm nhìn tương lai hoạt động NCKH tại ĐHQG Lào

Trong tương lai, công tác quản lý nghiên cứu khoa học sinh viên tại Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Lào cần hướng tới sự hội nhập quốc tế sâu rộng. Việc mở rộng hợp tác nghiên cứu với các trường đại học trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam, sẽ mở ra nhiều cơ hội trao đổi tri thức. Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận quản lý giáo dục để phù hợp với những biến đổi của thời đại số. Đầu tư vào con người và công nghệ sẽ luôn là chìa khóa để duy trì phong trào khoa học bền vững. Mục tiêu cuối cùng là biến nghiên cứu khoa học trở thành một nét văn hóa đặc trưng, một niềm tự hào của mỗi sinh viên khi theo học tại ngôi trường luật hàng đầu của Lào.

6.1. Hướng tới môi trường học thuật hội nhập quốc tế

Nhà trường cần khuyến khích các đề tài nghiên cứu so sánh pháp luật giữa Lào và các nước ASEAN. Việc tổ chức các hội nghị khoa học quốc tế cho sinh viên sẽ giúp các em cọ xát và học hỏi từ bạn bè quốc tế. Môi trường học thuật đa dạng sẽ kích thích những tư duy mới mẻ, giúp sinh viên Lào không bị tụt hậu trong bối cảnh toàn cầu hóa pháp lý hiện nay.

6.2. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ nghiên cứu lâu dài

Xây dựng quỹ hỗ trợ nghiên cứu bền vững từ nguồn xã hội hóa và hợp tác doanh nghiệp. Các chính sách hỗ trợ nghiên cứu cần được duy trì và mở rộng hơn nữa, tập trung vào việc công bố quốc tế. Khi có sự đầu tư bài bản và dài hạn, hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên sẽ thực sự trở thành đòn bẩy chiến lược để nâng tầm thương hiệu cho Đại học Quốc gia Lào.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục biện pháp quản lý công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên trường đại học luật đại học quốc gia lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên ở trường đại học ~ Chương 2: Thực trạng quản lý công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường ĐH Luật ~ ĐHQG Lào ~ Chương 3: Biện pháp quản lý công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường ĐH Luật - ĐHQG Lào. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tham khảo các văn bản của Đảng, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào về giáo dục, giáo dục đại học như Luật giáo dục đại học (2007), Qui chế tổ chức nghiên cứu khoa học và nghiên cứu khoa học giáo dục (2012); các tài liệu về quản lý, quản lý giáo dục như: Quản lý giáo dục (2006), Khoa học quản lý giáo dục - một số vấn đề lý luận và thực tiễn (2004). Đồng thời để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, tác giả luận văn đã đọc, nghiên cứu, tham khảo các tài liệu về nghiên cứu khoa học và quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên của các tác giả Việt Nam và Lào như: Phương pháp luận khoa học giáo dục (1981), Phương pháp nghiên cứu khoa học (2001), Hệ thống thông tin giáo dục và nghiên cứu khoa học (2003), Giáo dục và nghiên cứu khoa học (2009),. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.

TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động đặc thù, là nhân tố không thể thiếu trong quá trình đào tạo SV ở trường ĐH. Chính vì vậy, NCKH ciia SV va quản lý công tác NCKH của SV, từ lâu đã là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà QLGD ở Lào và Việt Nam. Ở Lào, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu của các viện và các trường ĐH nhận định phương pháp dạy và học ở trường ĐH phải tiếp cận phương pháp NCKH. Cách học của SV ở trường DH phải gắ ền với các hình thức NCKH nhằm phát triển tư duy sáng tạo, tính độc lập suy nghĩ và chủ động trong quá trình học tập của SV.

Sinh viên tham gia NCKH là điều kiện, phương tiện cần thiết để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp trong quá trình đào tạo ở các trường ĐH. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và xuất bản các giáo trình hướng dẫn SV NCKH như: “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của SomKhan Dydaravong (2003), “Hệ thống thông tin giáo dục và nghiên cứu khoa học” của Khammoun Thongseng (2003), “Giáo dục và nghiên cứu khoa học” của Thongchan Souksakoun (2009), “Báo cáo nghiên cứu khoa học giáo dục và tình hình kinh tế của Lào” của Bộ giáo duc va thé thao Lào (2009), “Thực trạng và mục đích nghiên cứu khoa học giáo dục vì mọi người” của Bộ giáo dục và thể thao Lào (2012), “Nghiên cứu khoa học giáo dục và ảnh hưởng của giáo dục khi học nhiều ngành cùng một thời gian” của Thongsa Souksavath (2012),. Tác giả Thongchan Souksakoun trong tác phẩm “Nghiên cứu khoa học là gì” (2009) đã đề cập có nhiều cách thực hiện NCKH theo hệ thống liên quan đến nhiều ngành hoặc nhiều tổ chức khác nhau; NCKH nhằm tìm ra sự thật hay là một kết quả cụ thê Ở Việt Nam, đến nay, đã có nhiều tác giả, các nhà khoa học đã nghiên cứu và xuất bản các giáo trình hướng dẫn SV NCKH như: “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của Phạm Minh Hạc (1981), “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của Nguyễn Văn Lê (1997), “Phương pháp học tập - nghiên cứu của sinh viên cao đẳng, đại học” của Phạm Trung Thanh (1998), “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Vũ Cao Đàm (1999), “Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục” của Phạm Viết Vượng (2000), “Phương pháp nghiên cứu khoa học” của Phương Kỳ Sơn (2001) với mục đích cung cấp cho SV cơ sở phương pháp luận, phương pháp NCKH để họ tổ chức rèn luyện, thực hành, tập dượt NCKH có hiệu quả Các chuyên luận trên đã thể hiện sự khai thác, bổ sung thông tin khoa học cập nhật, tăng cường sự chính xác hoá, loại bỏ những thông tin khoa học lạc hậu, đưa vào giáo trình các thông tin khoa học mới, bên cạnh đó có tính tới trình độ nghiên cứu của SV. Trong các công trình nghiên cứu về lý luận dạy học, nhiều tác gid da dé cập đến công tác NCKH của sinh viên.

Tác giả Lưu Xuân Mới trong “Lý luận day hoc dai hoc” (2000) đã nhận định NCKH là một hình thức tổ chức dạy học bắt buộc đối với sinh viên. Trong “Lý luận dạy học đại học” của Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (2003), NCKH là đặc trưng cần thiết và là đặc điểm độc đáo của giáo dục ĐH. Với “Một số vấn đề hiện nay của phương pháp dạy học đại học” (2002), các tác giả Lê Công Triêm, Nguyễn Đức Vũ, Trần Thị Tú Anh cho rằng NCKH là con đường rèn luyện tư duy sáng tạo, tính độc lập suy nghĩ và chủ động của SV trong quá trình học tập, chuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo với “Học và dạy cách học” (2004) khẳng định việc tô chức cho SV tập dượt NCKH sẽ “rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học”.

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về mặt lý luận, nhiều công trình nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn của các nhà khoa học, nhà gi „ nhà QL đã được công bố dưới các hình thức báo cáo, tham luận. Các công trình nghiên cứu này đề cập công tác QL và các giải pháp nhằm đây mạnh việc NCKH của SV như: “Ý kiến từ phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên” của Ngô Xuân Dậu (1999); “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên” của Nguyễn Quốc Tế (2000); “Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho sinh viên các trường đại học” của Lê Thị Thanh Chung (2003); “Những giải pháp đây mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng trong thời gian tới” của Đỗ Nguyên Phương (2003); “Tăng cường bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho sinh viên sư phạm” của Nguyễn Quang Giao (2006). Bên cạnh đó, các báo cáo còn đề cập đến vai trò của giảng viên, các nhà khoa học trong việc tham gia hướng dẫn SV NCKH, vai trò của các tổ chức đoàn thể trong. việc góp phần đẩy mạnh công tác NCKH của SV và vấn đề xây dựng đội ngũ GV có năng lực hướng dẫn SV NCKH như: “Nghiên cứu khoa học góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học” của Đỗ Thị Chau (2004); “Sinh viên nghiên cứu khoa học - một mắt xích quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo ở trường đại học công nghệ” của Văn Đình Đệ (2004); “Nguồn cán bộ giảng dạy cho các trường đại học từ những sinh viên có năng lực nghiên cứu khoa học” (2000); “Một số giải pháp nhằm đây mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường Cao đẳng Y tế” của Nguyễn Tuấn Ngọc (2014); “Tăng cường bồi dưỡng giảng viên về công tác hướng dẫn sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học nhằm đây mạnh hoạt động.

nghiên cứu khoa học của sinh viên” của Nguyễn Quang Giao (2006). 10 Trong chương trình đảo tạo sau ĐH chuyên ngành QLGD, đã có nhiều luận văn tốt nghiệp nghiên cứu về quản lý công tác NCKH của GV và SV. như: “Thực trạng và biện pháp nâng cao kết quả NCKH của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Dương” của Cao Thị Thu Hằng (2000); “Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động NCKH đối với sinh viên sư phạm Trường ĐH Quy Nhơn” của Đinh Thị Sâm (2004); “Các biện pháp quản lý việc NCKH của sinh viên Trường ĐH Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng” của Nguyễn Quang Giao (2005); “Biện pháp cải tiến quản lý hoạt động NCKH của giảng viên Trường ĐH Công Đoàn” của Lê Thị Phương Thảo (2008); “Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội” của Phạm Thị Việt Hằng (2009); “Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của giảng viên Trường ĐH Trà Vinh” của Phan Thanh Hiền (2013),. Nhìn chung, đến nay đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu ở Lào và Việt Nam về NCKH của SV và quản lý công tác NCKH của SV ở trường ĐH.

Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quản lý công tác NCKH của SV Trường ĐH Luật ĐHQG Lào. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI 1. Nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học của sinh viên a. Nghiên cứu khoa học Theo ThongChan Souksakoun “Nghiên cứu khoa học là nghiên cứu dựa vào nguyên nhân đang nghiên cứu, hoặc tìm ra một kết quả nào đó là có thật [25] Thongsa Souksawath cho rằng “NCKH là có nhiều cách để tìm ra kết quả của mục đích NCKH, nếu muốn tìm ra kết quả đúng nhất nhưng có nhiều thực hiện khác nhau và kết quả tìm ra cũng có thê khác nhau, vì chúng ta có cách suy nghĩ khác nhau và cách thực hiện nghiên cứu khác nhau” [26] ll Tác giả Vilaphan Manisone cho là “NCKH là cách thực hiện theo hệ thống trong việc nghiên cứu và kết quả mình đã thấy trong một lĩnh vực nào đó trên thế giới” [24].

Theo Vũ Cao Dam, “NCKH là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vat, phát triển nhận thức khoa học về thế gi: hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để cải tạo thé gi °B]. Tác giả Phương Kỳ Sơn cho rằng “NCKH là hoạt động nhận thức thế giới khách quan, là quá trình phát hiện chân lý và vận dụng chúng vào cuộc sống” [12] Theo tác giả Phạm Viết Vượng, “NCKH là quá trình khám phá bằng cách tác động vào các đối tượng, làm cho nó bộc lộ bản chất của mình và quả tác động đó cho ta trí thức về đối tượng, vậy là ta có khái niệm về đối tượng”. NCKH là một hoạt động đặc biệt của con người. Đây là hoạt động có mục đích, có kế hoạch được tổ chức chặt chẽ của một đội ngũ các nhà khoa học với những phẩm chất đặc biệt, được đào tạo ở trình độ cao [13] Với ý nghĩa chung, “NCKH là hoạt động nhận thức thế giới khách quan, đó là quá trình sáng tạo, phát hiện chân lí, phát hiện những quy luật của thế giới của đội ngũ các nhà khoa học nhằm vận dụng những hiểu biết ấy vào cuộc sống” [13].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ