Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên ở trường đại học ~ Chương 2: Thực trạng quản lý công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường ĐH Luật ~ ĐHQG Lào ~ Chương 3: Biện pháp quản lý công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường ĐH Luật - ĐHQG Lào. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tham khảo các văn bản của Đảng, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào về giáo dục, giáo dục đại học như Luật giáo dục đại học (2007), Qui chế tổ chức nghiên cứu khoa học và nghiên cứu khoa học giáo dục (2012); các tài liệu về quản lý, quản lý giáo dục như: Quản lý giáo dục (2006), Khoa học quản lý giáo dục - một số vấn đề lý luận và thực tiễn (2004). Đồng thời để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, tác giả luận văn đã đọc, nghiên cứu, tham khảo các tài liệu về nghiên cứu khoa học và quản lý nghiên cứu khoa học của sinh viên của các tác giả Việt Nam và Lào như: Phương pháp luận khoa học giáo dục (1981), Phương pháp nghiên cứu khoa học (2001), Hệ thống thông tin giáo dục và nghiên cứu khoa học (2003), Giáo dục và nghiên cứu khoa học (2009),. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.
TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hoạt động đặc thù, là nhân tố không thể thiếu trong quá trình đào tạo SV ở trường ĐH. Chính vì vậy, NCKH ciia SV va quản lý công tác NCKH của SV, từ lâu đã là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà QLGD ở Lào và Việt Nam. Ở Lào, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu của các viện và các trường ĐH nhận định phương pháp dạy và học ở trường ĐH phải tiếp cận phương pháp NCKH. Cách học của SV ở trường DH phải gắ ền với các hình thức NCKH nhằm phát triển tư duy sáng tạo, tính độc lập suy nghĩ và chủ động trong quá trình học tập của SV.
Sinh viên tham gia NCKH là điều kiện, phương tiện cần thiết để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp trong quá trình đào tạo ở các trường ĐH. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và xuất bản các giáo trình hướng dẫn SV NCKH như: “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của SomKhan Dydaravong (2003), “Hệ thống thông tin giáo dục và nghiên cứu khoa học” của Khammoun Thongseng (2003), “Giáo dục và nghiên cứu khoa học” của Thongchan Souksakoun (2009), “Báo cáo nghiên cứu khoa học giáo dục và tình hình kinh tế của Lào” của Bộ giáo duc va thé thao Lào (2009), “Thực trạng và mục đích nghiên cứu khoa học giáo dục vì mọi người” của Bộ giáo dục và thể thao Lào (2012), “Nghiên cứu khoa học giáo dục và ảnh hưởng của giáo dục khi học nhiều ngành cùng một thời gian” của Thongsa Souksavath (2012),. Tác giả Thongchan Souksakoun trong tác phẩm “Nghiên cứu khoa học là gì” (2009) đã đề cập có nhiều cách thực hiện NCKH theo hệ thống liên quan đến nhiều ngành hoặc nhiều tổ chức khác nhau; NCKH nhằm tìm ra sự thật hay là một kết quả cụ thê Ở Việt Nam, đến nay, đã có nhiều tác giả, các nhà khoa học đã nghiên cứu và xuất bản các giáo trình hướng dẫn SV NCKH như: “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của Phạm Minh Hạc (1981), “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của Nguyễn Văn Lê (1997), “Phương pháp học tập - nghiên cứu của sinh viên cao đẳng, đại học” của Phạm Trung Thanh (1998), “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Vũ Cao Đàm (1999), “Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục” của Phạm Viết Vượng (2000), “Phương pháp nghiên cứu khoa học” của Phương Kỳ Sơn (2001) với mục đích cung cấp cho SV cơ sở phương pháp luận, phương pháp NCKH để họ tổ chức rèn luyện, thực hành, tập dượt NCKH có hiệu quả Các chuyên luận trên đã thể hiện sự khai thác, bổ sung thông tin khoa học cập nhật, tăng cường sự chính xác hoá, loại bỏ những thông tin khoa học lạc hậu, đưa vào giáo trình các thông tin khoa học mới, bên cạnh đó có tính tới trình độ nghiên cứu của SV. Trong các công trình nghiên cứu về lý luận dạy học, nhiều tác gid da dé cập đến công tác NCKH của sinh viên.
Tác giả Lưu Xuân Mới trong “Lý luận day hoc dai hoc” (2000) đã nhận định NCKH là một hình thức tổ chức dạy học bắt buộc đối với sinh viên. Trong “Lý luận dạy học đại học” của Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (2003), NCKH là đặc trưng cần thiết và là đặc điểm độc đáo của giáo dục ĐH. Với “Một số vấn đề hiện nay của phương pháp dạy học đại học” (2002), các tác giả Lê Công Triêm, Nguyễn Đức Vũ, Trần Thị Tú Anh cho rằng NCKH là con đường rèn luyện tư duy sáng tạo, tính độc lập suy nghĩ và chủ động của SV trong quá trình học tập, chuyển quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo với “Học và dạy cách học” (2004) khẳng định việc tô chức cho SV tập dượt NCKH sẽ “rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học”.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về mặt lý luận, nhiều công trình nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn của các nhà khoa học, nhà gi „ nhà QL đã được công bố dưới các hình thức báo cáo, tham luận. Các công trình nghiên cứu này đề cập công tác QL và các giải pháp nhằm đây mạnh việc NCKH của SV như: “Ý kiến từ phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên” của Ngô Xuân Dậu (1999); “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên” của Nguyễn Quốc Tế (2000); “Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho sinh viên các trường đại học” của Lê Thị Thanh Chung (2003); “Những giải pháp đây mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng trong thời gian tới” của Đỗ Nguyên Phương (2003); “Tăng cường bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho sinh viên sư phạm” của Nguyễn Quang Giao (2006). Bên cạnh đó, các báo cáo còn đề cập đến vai trò của giảng viên, các nhà khoa học trong việc tham gia hướng dẫn SV NCKH, vai trò của các tổ chức đoàn thể trong. việc góp phần đẩy mạnh công tác NCKH của SV và vấn đề xây dựng đội ngũ GV có năng lực hướng dẫn SV NCKH như: “Nghiên cứu khoa học góp phần đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học” của Đỗ Thị Chau (2004); “Sinh viên nghiên cứu khoa học - một mắt xích quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo ở trường đại học công nghệ” của Văn Đình Đệ (2004); “Nguồn cán bộ giảng dạy cho các trường đại học từ những sinh viên có năng lực nghiên cứu khoa học” (2000); “Một số giải pháp nhằm đây mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường Cao đẳng Y tế” của Nguyễn Tuấn Ngọc (2014); “Tăng cường bồi dưỡng giảng viên về công tác hướng dẫn sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học nhằm đây mạnh hoạt động.
nghiên cứu khoa học của sinh viên” của Nguyễn Quang Giao (2006). 10 Trong chương trình đảo tạo sau ĐH chuyên ngành QLGD, đã có nhiều luận văn tốt nghiệp nghiên cứu về quản lý công tác NCKH của GV và SV. như: “Thực trạng và biện pháp nâng cao kết quả NCKH của sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Hải Dương” của Cao Thị Thu Hằng (2000); “Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động NCKH đối với sinh viên sư phạm Trường ĐH Quy Nhơn” của Đinh Thị Sâm (2004); “Các biện pháp quản lý việc NCKH của sinh viên Trường ĐH Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng” của Nguyễn Quang Giao (2005); “Biện pháp cải tiến quản lý hoạt động NCKH của giảng viên Trường ĐH Công Đoàn” của Lê Thị Phương Thảo (2008); “Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội” của Phạm Thị Việt Hằng (2009); “Biện pháp quản lý hoạt động NCKH của giảng viên Trường ĐH Trà Vinh” của Phan Thanh Hiền (2013),. Nhìn chung, đến nay đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu ở Lào và Việt Nam về NCKH của SV và quản lý công tác NCKH của SV ở trường ĐH.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quản lý công tác NCKH của SV Trường ĐH Luật ĐHQG Lào. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI 1. Nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học của sinh viên a. Nghiên cứu khoa học Theo ThongChan Souksakoun “Nghiên cứu khoa học là nghiên cứu dựa vào nguyên nhân đang nghiên cứu, hoặc tìm ra một kết quả nào đó là có thật [25] Thongsa Souksawath cho rằng “NCKH là có nhiều cách để tìm ra kết quả của mục đích NCKH, nếu muốn tìm ra kết quả đúng nhất nhưng có nhiều thực hiện khác nhau và kết quả tìm ra cũng có thê khác nhau, vì chúng ta có cách suy nghĩ khác nhau và cách thực hiện nghiên cứu khác nhau” [26] ll Tác giả Vilaphan Manisone cho là “NCKH là cách thực hiện theo hệ thống trong việc nghiên cứu và kết quả mình đã thấy trong một lĩnh vực nào đó trên thế giới” [24].
Theo Vũ Cao Dam, “NCKH là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vat, phát triển nhận thức khoa học về thế gi: hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để cải tạo thé gi °B]. Tác giả Phương Kỳ Sơn cho rằng “NCKH là hoạt động nhận thức thế giới khách quan, là quá trình phát hiện chân lý và vận dụng chúng vào cuộc sống” [12] Theo tác giả Phạm Viết Vượng, “NCKH là quá trình khám phá bằng cách tác động vào các đối tượng, làm cho nó bộc lộ bản chất của mình và quả tác động đó cho ta trí thức về đối tượng, vậy là ta có khái niệm về đối tượng”. NCKH là một hoạt động đặc biệt của con người. Đây là hoạt động có mục đích, có kế hoạch được tổ chức chặt chẽ của một đội ngũ các nhà khoa học với những phẩm chất đặc biệt, được đào tạo ở trình độ cao [13] Với ý nghĩa chung, “NCKH là hoạt động nhận thức thế giới khách quan, đó là quá trình sáng tạo, phát hiện chân lí, phát hiện những quy luật của thế giới của đội ngũ các nhà khoa học nhằm vận dụng những hiểu biết ấy vào cuộc sống” [13].