Chương 1 LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ CHO VAYPHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆPNÔNG THÔNTẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Lý luận về quản lý dịch vụ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn tại các Ngân hàng thương mại.1 Khái niệm, chức năng và phân loại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế của Việt Nam. Quá trình phát triển hệ thống NHTM nàygắn liền với quá trình cải cánh và phát triển kinh tế của đất nước.
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hệ thống NHTM Việt Nam không ngừng đổi mới và phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập kinh tế của đất nước và hội nhập sâu rộng trên toàn thế giới. Với chức năng là trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán, trung gian thanh toán, Ngân hàng là một yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Theo Phan Duy Minh và cộng sự (2012), “Ngân hàng thương mại là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó một cá nhân hoặc một tổ chức không được sở hữu số cổ phần của ngân hàng quá tỷ lệ do Ngân hàng Nhà nước quy định”.
Như vậy, có thể nói NHTM là loại hình thức tổ chức tài chính được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính: tín 6 dụng, nhận tiền gửi và dịch vụ thanh toán,. và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức trung gia già chính nào trong nền kinh tế. Chức năng của ngân hàng thương mại Trong sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, NHTM là một yếu tố không thể thiếu bởi các chức năng cơ bản là trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán, trung gian thanh toán. Theo Giáo trình Tài chính - Tiền tệ của Phan ngọc Dũng và cộng sự (2011) thì chức năng của NHTX bao gồm những chức năng cụ thể như sau: i) Chức năng trung gian tài chính Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đối tượng tiếp xúc bao gồm hai loại là cá nhân và tổ chức trong kinh tế: Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu (tức là những đối tượng này chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn).
Các cá nhân và tổ chức thặng dư tạm thời trong chi tiêu (tức là những cá nhân, tổ chức có thu nhập hiên tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm).Sự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với Ngân hàng, làm thế nào để tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai cùng có lợi là điều tất yếu. Khi đó sẽ hình thành nên mối quan hệ tài chính, mà có thể là quan hệ trực tiếp dưới hình thức tín dụng hoặc quan hệ cấp phát, hùn vốn và cũng có thể là quan hệ gián tiếp nếu trong quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do không phù hợp về qui mô, thời gian, không gian. Với quan hệ gián tiếp đòi hỏi có sự tham gia của các trung gian tài chính mà với sự chuyên môn hóa họ có thể giảm chi phí giao dịch xuống, làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm từ đó mà khuyến khích được tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư và cũng khuyến khích đầu tư. Với vai trò này, ngân hàng là tổ chức tập hợp những người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy giải quyết được mâu thuẫn của quan hệ tài chính trực tiếp.
Đồng thời, do sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích 7 thông tin thường được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường và Ngân hàng có năng lực để làm giảm đến mức thấp nhất những sai lệch đó. Do vậy, Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. ii) Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng là trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay tất cả các quốc gia.
Ngân hàng thay mặt cho khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ, để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện và tiết kiệm chi phí, Ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng Séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu. Ngân hàng cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần.Các Ngân hàng còn thực hiện việc thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán, công nghệ thanh toán qua Ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng.Cùng với quá trình phát triển và hội nhập chung của nền kinh tế, nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các Ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua Ngân hàng, biến Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế của tất cả các quốc gia trên thế giới. iii)Chức năng tạo tiền Tiền được hiểu là vật ngang giá chung, được sử dụng để trao đổi, thanh toán trên thị trường.
Tạo tiền là một chức năng quan trọng của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của 8 NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ…Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với NHTM. Do vậy, ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn. Phân loại ngân hàng thương mại Để phân loại ngân hàng thương mại, hiện nay, có nhiều các phân loại khác nhau tùy theo cách tiếp cận, theo mục đích, theo tính chất hoạt động mà phân loại ngân hàng tương mại theo các cách khác nhau, Theo Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại của Nguyễn Thị Mai và cộng sự (2011), phân loại ngân hàng thương mại như sau: - Dựa vào hình thức sở hữu có: + Ngân hàng thương mại Quốc doanh là ngân hàng thương mại được mở bằng 100% từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Trong xu thế kinh tế hội nhập, để thu hút được nhiều nguồn vốn thì ngân hàng thương mại quốc doanh ban hành nhiều hình thức tăng vốn như phát hành trái phiếu, cổ phần hóa ngân hàng.
+Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được thành lập dưới sự góp vốn của hai hay nhiều cá nhân hoặc công ty theo cổ phần. Trong đó mỗi cá nhân hay công ty chỉ được sở hữu một số cổ phần hạn định theo qui định của ngân hàng nhà nước Việt nam. + Ngân hàng liên doanh là ngân hàng thương mại được thành lập bằng vốn giữa các ngân hàng với nhau, một bên là ngân hàng thương mại Việt nam và một bên khác là ngân hàng thương mại nước ngoài có trụ sở đặt tại Việt 9 nam, hoạt động như những ngân hàng ở Việt Nam. + Chi nhánh ngân hàng nước ngoài:Là ngân hàng thương mại được thành lập do vốn của nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, được phép đặt chi nhánh tại Việt Nam và hoạt động theo pháp luật của Việt Nam.
+ Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài: Là ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam với nguồn vốn điều lệ hoàn toàn từ nước ngoài, do sự sở hữu của nước ngoài. Ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài được hoạt động dưới hình thức công ty TNHH một thành viên hoặc từ hai hay nhiều thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam , có trụ sở chính tại Việt Nam. - Dựa vào chiến lược kinh doanh: + Ngân hàng bán buôn: là loại ngân hàng chủ yếu giao dịch và cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp lớn, các công ty tài chính,. Nhà nước, rất ít khi giao dịch với khách hàng là cá nhân.
+ Ngân hàng bán lẻ: là loại ngân hàng các giao dịch và cung cấp các dịch vụ cho các khách hàng cá nhân. + Ngân hàng hỗn hợp (vừa bán buôn vừa bán lẻ): là loại ngân hàng giao dịch và cung cấp các dịch vụ cho các khách hàng doanh nghiệp và các khách hàng cá nhân. - Dựa vào tính chất hoạt động: + Ngân hàng chuyên doanh: là loại ngân hàng chỉ hoạt động chuyên về một lĩnh vực nhất định như nông nghiệp, xuất nhập khẩu, đầu tư… + Ngân hàng kinh doanh tổng hợp: là loại ngân hàng hoạt động ở tất cả các lĩnh vực kinh tế và thực hiện gần như tất cả các nghiệp vụ phát sinh mà một ngân hàng được phép thực hiện theo quy định của pháp luật. Trong đó Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là ngân hàng Dựa vào hình thức sở hữu là ngân hàng thương mại Quốc doanh.2 Khái niệm, đặc điểm và mục tiêu của quản lý dịch vụ cho vay nông 10 nghiệpnông thôn tại ngân hàng thương mại.