Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG TRUNG CẤP 1. KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Ở nước ngoài Nhân lực cũng như chất lượng nguồn nhân lực là nền tảng cho sự phát triển của mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ. Vì vậy, ĐT và hoạt động ĐT ở các trường ĐH, CĐ, TC được tất cả các quốc gia, các cơ sở ĐT quan tâm, tiếp cận, đánh giá ở nhiều mức độ, công trình nghiên cứu khoa học khác nhau liên quan đến vấn đề này.
Cho đến ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều bố trí hệ thống GDNN bên cạnh bậc phổ thông và ĐT bậc CĐ, ĐH. Do sớm có hệ thống GDNN nên các nước tư bản phát triển đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong quá trình ĐT. Ở Cộng hòa Liên bang Đức Nước này đang có những thay đổi mạnh mẽ về công nghiệp nên yêu cầu lao động có kĩ thuật, công nghệ, tri thức ngày càng tăng. Đó là tiêu chuẩn đòi hỏi lao động cần tăng cường khả năng chuyên môn của mình (năng lực xã hội, nhân sự, khả năng giao lưu, khả năng hợp tác, làm việc nhóm…).
Vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay là: làm sao để doanh nghiệp Đức thỏa mãn nhu cầu của xã hội và đảm bảo lực lượng lao động có năng lực xã hội. Bởi vì, ở Đức nếu không qua ĐT đồng nghĩa với việc sẽ không tìm được việc làm. Hiện nay, các doanh nghiệp ở Liên bang Đức đang phải đối mặt với những thách thức to lớn: tỉ lệ sinh giảm nên số người đi học giảm, tuổi thọ trung bình tăng dẫn đến nhu cầu học nghề giảm và thiếu lực lượng lao động có tay nghề. Dự báo, đến năm 2020 nước này sẽ giảm 20% số người học nghề 7 và giảm 1,5 triệu lao động/1 năm.
Ở Australia Các cơ sở GD&ĐT nghề của Australia mang đến cho HS cơ hội đào luyện kĩ năng trong những môi trường thực tế và mô phỏng. Chuyên môn thực tế mà HS đạt được trong môi trường làm việc tại Australia sẽ giúp họ có được lợi thế thực sự so với các HS tốt nghiệp ở các nơi khác. Tại các cơ sở GD này, người học có thể theo học nhiều chuyên ngành đa dạng khác nhau bao gồm: Quản trị kinh doanh, khoa học và công nghệ, thiết kế và nghệ thuật, truyền thông, thể thao và giải trí, dịch vụ cộng đồng và y tế, du lịch và chiêu đãi, kĩ thuật và xây dựng, QL đất đai và Anh ngữ. Những chương trình ĐT ở Australia cho phép HS áp dụng kiến thức được lĩnh hội trong không gian lớp học cũng như từ thế giới thực tế bên ngoài.
HS được học qua thực hành hơn là chỉ đơn thuần đọc từ sách vở. Bằng cấp ban đầu này có thể là cơ sở để HS phát triển lên những bằng cấp cao hơn, tạo nền tảng để bắt đầu hoặc thay đổi nghề nghiệp, hoặc hỗ trợ việc tiếp tục theo học tại trường ĐH. Ở Nhật Bản Các trường dạy nghề ở Nhật Bản chính là cơ sở GD phổ thông nhằm cung cấp các kiến thức cần thiết về nghề nghiệp, các kĩ năng thực hành cho thực tế cuộc sống và nghề nghiệp. Các nghề nghiệp cần phải được ĐT nghiêm túc và được cấp chứng chỉ gồm: Đạo diễn phim hoạt hình, thiết kế trò chơi, thiết kế nội thất, kĩ sư hệ thống, thợ sửa chữa ô tô, y tá, chuyên gia dinh dưỡng, kiểm toán viên, biên phiên dịch, nhà thẩm mĩ, thiết kế đồ trang sức, y tế, công nghệ, văn hóa, sư phạm, nghiệp vụ thương mại, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, phúc lợi xã hội, may thời trang, gia chánh, nông nghiệp… Các văn bằng và chứng chỉ được cấp khi tốt nghiệp gồm: Chuyên gia: Thời gian học từ 2 năm trở lên sẽ nhận được Chứng chỉ nghiệp vụ.
Đánh giá thành tích học tập thông qua các kì thi kiểm tra để khẳng 8 định là HS có được tốt nghiệp hay không. Chuyên gia cao cấp: Thời gian học từ 4 năm trở lên sẽ nhận được Chứng chỉ nghiệp vụ. Đánh giá thành tích học tập thông qua các kì thi kiểm tra để khẳng định là HS có được tốt nghiệp hay không. HS đáp ứng đầy đủ những yêu cầu trên, khi học xong khóa học sẽ được công nhận bằng “Chuyên gia” hoặc “Chuyên gia cao cấp”.
Chuyên gia có thể học tiếp lên đại học và chuyên gia cao cấp có đủ tư cách hoc lên cao học. Ở Việt Nam Theo thống kê, đến tháng 6 năm 2017, cả nước có 1.942 cơ sở GDNN, gồm 395 trường cao đẳng, 550 trường trung cấp và 997 trung tâm. Tuy nhiên, nhìn chung việc phân bố mạng lưới các cơ sở GDNN trên phạm vi cả nước vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập. Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề ĐT, giữa các vùng miền chậm được khắc phục, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của xã hội.
Chất lượng, hiệu quả ĐT của nhiều cơ sở GDNN mặc dù đã được cải thiện, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa gắn bó với nhu cầu nhân lực của từng ngành, từng địa phương; mối quan hệ giữa cơ sở GDNN và các đơn vị sử dụng lao động chưa chặt chẽ; học sinh, sinh viên tốt nghiệp yếu về ngoại ngữ và các kĩ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm., kĩ năng khởi nghiệp; tỉ lệ thất nghiệp của HSSV ở trình độ trung cấp, cao đẳng còn cao; số học sinh, sinh viên tốt nghiệp chưa có việc làm vẫn còn khá lớn (khoảng 30%) và có xu hướng gia tăng. Những vấn đề về ĐT, QL HĐĐT cũng được quan tâm ngay từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX. Theo hướng tiếp cận từ trên nhiều bình diện khác nhau, các luận văn cao học chuyên ngành QLGD cũng đề cập đến như: “Các biện pháp QL HĐDH ở trường Cao đẳng Nghề Quy Nhơn” của Nguyễn Thị Bốn; “Thực hiện tốt chiến lược ĐT nghề góp phần phát triển thị trường lao động” của Đỗ Trọng Hùng; “Phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng 9 quá trình đào tạo nguồn nhân lực” của Nguyễn Minh Đường và Hội thảo về “Đổi mới công tác QL trong các trường ĐT nghề đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH, … Trong “GD và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI” (2009), tác giả Trần Khánh Đức nêu ra quan điểm về chất lượng ĐT là “kết quả của quá trình ĐT được phản ảnh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình ĐT theo các ngành nghề cụ thể”. [20] Tác giả Nguyễn Đức Trí với “Giáo dục nghề nghiệp - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn” (2010) đã nêu quan điểm về chất lượng GDNN, đó là đích tới luôn thay đổi và luôn có tính lịch sử; là mức độ đáp ứng các mục tiêu GDNN, bao gồm mục tiêu hệ thống và mục tiêu nhân cách trong sự đa dạng, phức tạp và thường xuyên thay đổi hơn nhiều so với giáo dục phổ thông.
Từ đó, cụ thể hóa chất lượng giáo dục theo quan niệm tương đối gồm chất lượng bên trong và chất lượng bên ngoài. Trong chuyên đề “QL quá trình đào tạo ở trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN)” của Nguyễn Đức Trí, tác giả phân tích các vấn đề cụ thể về một số quan niệm, đặc điểm và những yếu tố chủ yếu của quá trình đào tạo ở trường TCCN, QL quá trình đào tạo ở trường TCCN. Trong quan niệm về mục tiêu đào tạo TCCN, tác giả đã nêu sự thay đổi cơ bản trong mục tiêu của giáo dục chuyên nghiệp (giữa Luật giáo dục 1998 và Luật giáo dục 2005): “mục tiêu liên quan đến một nghề và trình độ giáo dục chuyên nghiệp được coi là một cấp trình độ của giáo dục nghề nghiệp”. Ngoài ra, còn có các nghiên cứu của Phan Văn Kha với “Xây dựng chiến lược phát triển giáo dục kĩ thuật ở Việt Nam” (1998), “QL nhà nước về giáo dục” (2005); Đặng Bá Lãm với “Chính sách và kế hoạch trong QLGD” (1999); Trần Khánh Đức với cuốn “QL và đào tạo và chất lượng nhân lực theo ISO và TQM” (2004); Nguyễn Lộc với bài viết “TQM hay là QL chất 10 lượng toàn thể trong giáo dục” (2010)… Gần đây, một số luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, chuyên ngành QL đã đề cập đến các biện pháp QL như các đề tài: “QL chất lượng đào tạo tại Trường Trung Cấp Du Lịch Cần Thơ”, tác giả Nguyễn Lê Vân Tuyết, Viện khoa học giáo dục Việt Nam (2012).
Một số luận án Tiến sĩ liên quan đến QL chất lượng như: Xây dựng hệ thống QL chất lượng đào tạo trong trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội theo cách tiếp cận QL chất lượng tổng thể (TQM). Tác giả Bùi Thị Thu Hương. Đại học giáo dục (2011). Xây dựng hệ thống QL chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ trên cơ sở tin học hoá và tiếp cận QL chất lượng tổng thể TQM trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực.
Tác giả Trần Trung Kiên. Đại học giáo dục (2011). Các đề tài đã tập trung đề cập đến các góc độ khác nhau của công tác QL trường TCCN nhằm nâng cao chất lượng ĐT ở các trường TCCN nói chung, và đã có đóng góp làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận và thực tiễn về công tác QL chất lượng đào tạo TCCN. Song, ở những địa bàn khác nhau, với những tính chất đặc thù riêng, cần có sự vận dụng uyển chuyển các lí thuyết QL ứng với điều kiện thực tế từng vùng, miền để tìm ra biện pháp QL phù hợp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả ĐT đáp ứng nhu cầu phát triển KT- XH của khu vực và hội nhập quốc tế.
Tuy vấn đề QL HĐĐT ở các trường trung cấp trong thời gian qua cũng đã đạt được một số thành tích đáng kể. Song, trong nhiều năm, vấn đề QL HĐĐT chưa được nghiên cứu một cách có đầy đủ. Đặc biệt, tại tỉnh Đăk Nông, một tỉnh được thành lập muộn, từ trước đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về QL HĐĐT ở các trường trung cấp. Chính vì vậy, công tác QL HĐĐT ở các trường trung cấp là vấn đề cần được nghiên cứu một cách đầy đủ và chuyên sâu hơn, Trường Trung cấp KT - KK Phương Nam là một trong số đó.
Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao 11 chất lượng nguồn nhân lực góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển KT - XH của tỉnh Đăk Nông nói riêng và của nước ta nói chung. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 1.