Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẶN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC 1. Các nghiên cứu trên thế giới Giáo dục ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở tất cả các nước trên thế giới. Sự phát triển chóng mặt của thông tin, khoa học, công nghệ đòi hỏi nâng cao mặt bằng dân trí ngang tầm thời đại.
Vì thế các nước đều tập trung đầu tư cho giáo dục bằng mọi nguồn lực. Cách làm của mỗi nước khác nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội, chính sách của từng nước. Nhưng phần lớn đều hướng tới mục tiêu là làm cho toàn dân quan tâm, chăm lo giáo dục. Có thể điểm qua một số quốc gia sau: - Liên xô (cũ) và các nước Đông Âu huy động sự tham gia của xã hội vào việc xây dựng và phát triển giáo dục; đa dạng hoá các nguồn lực cho giáo dục; thực hiện sự kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
- Trung Quốc huy động xã hội tham gia vào giáo dục; cộng đồng hoá trách nhiệm; tăng nhịp độ đầu tư tài chính của nhà nước cho các địa phương, quyên thu các khoản đóng góp cho giáo dục từ các xí nghiệp, hầm mỏ, xây dựng các loại quỹ giáo dục, đa dạng hoá các loại hình giáo dục. - Ấn Độ huy động xã hội tham gia làm giáo dục; tập trung cho việc phổ cập giáo dục tiểu học thông qua liên kết đào tạo nghề, tìm việc làm với nâng cao trình độ văn hoá phổ thông; đa dạng hoá các loại hình học tập và loại hình trường lớp; huy động cộng đồng phát triểngiáo dục phi chính quy, mở các lớp học, khoá học cho những học sinh bỏ học, lưu ban và trẻ em không có điều kiện đến trường. - Philippines nâng cao trình độ học vấn và việc làm; giáo dục hoá xã hội; đa dạng hoá các loại hình học tập; lôi cuốn cộng đồng vào việc chuyển giao e 7 công nghệ - kỹ thuật sản xuất, đi đôi với việc giáo dục thanh thiếu niên. - Australia xem giáo dục là cứu tinh của đất nước; thể chế hoá trách nhiệm; lôi cuốn cộng đồng tham gia vào giáo dục đang là vấn đề quan trọng để cộng đồng có thể hỗ trợ công tác quản lý và công tác giáo dục.
Tóm lại, xu thế chung của mọi nước khi tiến hành XHHGD là tăng cường cộng đồng trách nhiệm, đa dạng hoá các loại hình trường, lớp và đa dạng hoá nguồn đầu tư, gắn môi trường giáo dục, đào tạo với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt coi trọng thể chế các nội dung XHHGD. Các nghiên cứu ở Việt Nam. Đối với Việt Nam chúng ta, XHHGD không phải là vấn đề mới, mà đã bắt nguồn từ trước và qua từng thời kỳ có những bước phát triển. Với tư tưởng “Lấy dân làm gốc”, “Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” đã được Đảng vận dụng sáng tạo, là sức mạnh tiềm tàng cho sự phát triển nền giáo dục nước nhà.
Tư tưởng giáo dục “ai cũng được học hành” của Hồ Chí Minh đã thực sự đi vào cuộc sống kể từ khi khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà non trẻ. Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, cả hai miền Nam, Bắc cùng thực hiện một hệ thống giáo dục và đã đạt được những thành quả nhất định. Song do cơ chế tập trung, bao cấp, nền giáo dục chưa khai thác triệt để bài học phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển giáo dục. Từ đó, việc “huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân cùng góp sức xây dựng nền giáo dục, quốc phòng toàn dân dưới sự quản lý của nhà nước” đã trở nên vô cùng cấp thiết.
Đảng ta đã khẳng định “xã hội hoá” là một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội. Nghị quyết Hội nghị TƯ 2 khóa VIII (1996) chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân” [14, tr. Đến Nghị quyết TW 6 khoá IX, Đảng đã khẳng định: “Đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn e 8 dân, là giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục” [18, tr. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) đã chỉ rõ: “Thực hiện xã hội hoá giáo dục.
Huy động nguồn lực, vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban ngành, các tổ chức chính trị-xã hội, xã hội-nghề nghiệp,.để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội” [176, tr. XHHGD là thực hiện phương châm, phương thức giáo dục mang tính xã hội rộng lớn. Để thực hiện XHHGD thì cần có cơ chế, chính sách, định hướng cho con người tích cực, tự giác học tập mọi lúc, mọi nơi.
Xã hội cùng với nhà trường, gia đình kết hợp chặt chẽ trong các hoạt động để giáo dục thế hệ trẻ. XHHGD là xây dựng xã hội học tập, mọi người trong xã hội ở mọi lứa tuổi, mọi cương vị đều tự giác, có nhu cầu học tập, đó cũng là xu thế phổ biến hiện nay trên thế giới. Quá trình toàn cầu hoá cùng với nó là XHH trở thành xu thế khách quan đối với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực giáo dục. Giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội rộng lớn và sâu sắc.
Vì thế, XHHGD không thể không diễn ra và là xu thế khách quan chi phối những hoạt động giáo dục dưới nhiều nội dung, hình thức khác nhau. Vấn đề XHHGD cũng đã được nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn. Trong tác phẩm “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XX”, tác giả Phạm Minh Hạc nói rằng: “Sự nghiệp giáo dục không chỉ là của Nhà nước mà là của toàn xã hội. Mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục” [23].
Nghiên cứu của Đặng Quốc Bảo cho rằng: “XHHGD phản ánh bản chất luận đề: Giáo dục cho tất cả mọi người, tất cả cho sự nghiệp giáo dục (Education for All, All for Education EFA- AFE). Vậy việc huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước không phải là một ý tưởng mới lạ. e 9 Nhóm tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình trong cuốn “Xã hội hoá giáo dục nhận thức và hành động”. Các nhà nghiên cứu Nguyễn Mậu Bành, Thái Duy Tuyên, Đào Huy Ngân cũng đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác XHHGD.
Bên cạnh đó còn có nhiều đề tài, luận văn đã đề cập và nêu ra nhiều giải pháp công tác XHHGD. Những luận văn, đề tài nghiên cứu trên đã chỉ rõ giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, giáo dục dành cho mọi người, giáo dục phải vì dân, luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Ở tỉnh Gia Lai, các nhà quản lý và quản lý giáo dục cũng đã nghiên cứu một số đề tài về lĩnh vực này nhằm đưa ra những giải pháp có tính khả thi giúp các cấp quản lý có cái nhìn cụ thể, khoa học hơn về XHHGD để làm cơ sở huy động nguồn lực xây dựng nhà trường. Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai chưa có ai nghiên cứu sâu về công tác quản lý XHHGD ở các trường THCS.
Vì vậy, kế thừa và phát triển những nghiên cứu và luận văn của các tác giả đi trước, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này nhằm làm sáng tỏ thêm những lý luận về XHHGD ở trường THCS. Khảo sát thực trạng công tác này tại các trường THCS trên địa bàn thị xã An Khê, đặc thù của một thị xã giàu tiềm năng kinh tế của Đông Gia Lai, có những nét riêng về địa lý, đặc điểm dân cư, văn hóa. có ảnh hưởng nhất định đến việc quản lý công tác XHHGD. Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp quản lý công tác XHHGD ở các trường THCS trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 1. Quản lý Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và nêu những định nghĩa về quản lý theo các cách tiếp cận khác nhau.F: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là một khoa học và e 10 là một nghệ thuật tác động vào hệ thống xã hội chủ yếu là quản lý con người nhằm đạt được những mục tiêu xác định. Hệ thống đó vừa động vừa ổn định bao gồm nhiều thành phần có tác động qua lại lẫn nhau.54] Harol Koontz khẳng định: “Quản lý là sự tác động thiết yếu bảo đảm sự nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức.85] Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.97] Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng một hệ thống các luật, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra” [43] Có thể xem Quản lý là quá trình chủ thể tác động gây ảnh hưởng tới khách thể thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý, bằng những công cụ và phương pháp mang tính đặc thù nhằm đạt được mục tiêu chung của toàn hệ thống. Đồng thời, mục tiêu quản lý cũng tác động ngược trở lại để chủ thể quản lý điều chỉnh phương pháp, cách thức quản lý của mình.
Quản lý giáo dục Theo M. Konđacốp: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu…nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng cả về mặt số lượng cũng như chất lượng [36,tr.