Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO 1. Cơ sở lý luận về quản lý công tác giảm nghèo 1. Khái niệm nghèo và chuẩn mực nghèo 1. Khái niệm về nghèo + Khái niệm nghèo.
Có khá nhiều khái niệm khác nhau về nghèo đói, tùy thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà có những quan niệm khác nhau về nghèo đói. Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do (ESCAP) tổ chức tại BangKok, Thái Lan 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương”. Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo và được nhiều nước trên thế giới sử dụng, trong đó có Việt Nam [37]. Định nghĩa mới của Ngân hàng Thế giới đề cập đến nghèo ở khía cạnh rộng hơn không chỉ là thiếu thốn điều kiện về vật chất mà còn là những vấn đề khác như giáo dục, sức khỏe hay khả năng dễ bị tổn thương.
Theo tổ chức này “Nghèo là khái niệm vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất; nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực” [19]. Vào thập niên 1970 và những năm 1980: khái niệm về nghèo là sự “thiếu hụt” so với một mức sống nhất định. Nghèo chỉ được tiếp cận theo nhu cầu cơ bản gồm: tiêu dùng, dịch vụ xã hội và nguồn lực. Theo nhà kinh tế học Mỹ Galbraith quan niệm rằng: “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng.
Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối 7 thiểu để sống một cách đúng mực”. Ở Việt Nam, tập trung nhất vào các quan điểm, khái niệm, tiêu chí về chuẩn mực nghèo do Bộ LĐTB&XH ban hành. + Khái niệm về nghèo theo Bộ LĐTB&XH Nghèo: là tình trạng một bộ phận người dân có mức sống dưới mức trung bình so với mặt bằng chung của cộng đồng, chưa đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu cần có của cuộc sống. Nghèo tuyệt đối: một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu nhập của họ hoặc hộ gia đình thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định bởi một quốc gia hoặc một tổ chức quốc tế trong một thời gian nhất định.
Nghèo tương đối: là tình trạng mà một hoặc nhiều thành viên trong hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo theo những không gian và thời gian cụ thể. Chuẩn mực nghèo đói Trong những năm qua nước ta tồn tại song song một số phương pháp xác định chuẩn nghèo phục vụ mục đích khác nhau. Đó là cách xác định chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội công bố và chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới * Cách xác định đường nghèo của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới - Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm được xác định là chi phí cần thiết mua rổ lương thực, thực phẩm cung cấp đủ lượng Kcalo tiêu dùng bình quân 1 người 1 ngày (2. Năm 1998 chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm được xác định là 1.287 ngàn đồng/người/năm - Chuẩn nghèo chung được xác định bằng cách lấy chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm cộng với chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm của nhóm dân cư 3 (nhóm có mức sống trung bình).
Chuẩn nghèo chung được xác định cho năm 1998 là: 1.790 ngàn đồng/người/năm. Tuy nhiên, phương pháp này có một số hạn chế sau: Phương pháp này sử dụng rổ hàng hóa từ năm 1993 đến nay đã 20 năm không thể phản ảnh được thực tế tiêu dùng hiện tại của đại đa số người dân Việt Nam. 8 Sử dụng một chuẩn nghèo duy nhất áp dụng cho cả khu vực thành thị và nông thôn chỉ cho phép đánh giá thực trạng nghèo đói của cả nước, không thể xác định và lập được danh sách hộ nghèo cụ thể ở các địa phương. * Phương pháp xác định chuẩn nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Lúc đầu chuẩn nghèo được xác định dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang sử dụng chỉ tiêu thu nhập.
Mục đích của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là xác định được đối tượng cụ thể của chương trình trợ cấp thôn, xã, lên danh sách hộ nghèo, chỉ ra các nguyên nhân nghèo đói và đề xuất các giải pháp hỗ trợ. Bên cạnh đó giúp Chính phủ theo dõi, đánh giá tác động của các chính sách kinh tế và xóa đói giảm nghèo, điều chỉnh chuẩn nghèo theo mức độ cải thiện của đời sống dân cư và người nghèo. Chuẩn nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo của Việt Nam Chuẩn nghèo lần 1: Ban hành năm 1993, quy định: Chia hộ đói nghèo trong cả nước thành hai loại là hộ đói và hộ nghèo, chia cả nước thành hai vùng đói nghèo đó là thành thị và nông thôn, trong đó: + Hộ đói: Là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới 13kg/người/tháng đối với khu vực thành thị và dưới 8 kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn. + Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới 20kg/người/tháng đối với khu vực thành thị và dưới 15kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn.
Chuẩn nghèo lần 2: Ban hành năm 1995, quy định: Chia hộ đói nghèo trong cả nước thành hai loại là hộ đói và hộ nghèo, chia cả nước thành 3 vùng đói nghèo là: thành thị, nông thôn miền núi và hải đảo, nông thôn đồng bằng và trung du, trong đó: + Hộ đói: Là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới 13kg/người/tháng, tính cho mọi vùng. + Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới 15kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, dưới 20kg/người/tháng đối với khu vực nông thôn đồng bằng và trung du và dưới 25kg/người/tháng đối với khu vực thành thị. 9 Chuẩn nghèo lần 3: Ban hành năm 1997 (Công văn số 1751/LĐTBXH ngày 20/5/1997), quy định: Chia hộ đói nghèo trong cả nước thành hai loại là hộ đói và hộ nghèo, chia cả nước thành ba vùng đói, nghèo là: thành thị, nông thôn miền núi và hải đảo, nông thôn đồng bằng và trung du, trong đó: + Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân quy gạo dưới 13kg/người/tháng, tương đương 45.000 đồng, tính cho mọi vùng. + Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân quy gạo dưới 15kg/người/tháng, tương đương 55.000 đồng tính cho khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, dưới 20kg/người/tháng, tương đương 70.000đ tính cho khu vực nông thôn đồng bằng và dưới 25kg/người/tháng, tương đương với 90.000 đồng tính cho khu vực thành thị.
Chuẩn nghèo lần 4: Ban hành năm 2000 (Quyết định số 1143/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000), quy định: Bỏ tiêu chí xác định hộ đói, giữ lại tiêu chí xác định hộ nghèo, không dựa vào thu nhập lương thực quy gạo mà dựa vào thu nhập tính theo tiền Việt Nam, trong đó: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dưới 80.000đ/người/tháng, tính cho khu vực nông thôn miền núi và hải đảo, dưới 100.000đ/người/tháng, tính cho khu vực nông thôn đồng bằng và dưới 150.000đ/người/tháng, tính cho khu vực thành thị. Chuẩn nghèo lần 5: Ban hành năm 2005 (Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ), quy định chuẩn nghèo giai đoạn này được nâng lên cho phù hợp với mức sống đã được nâng lên của nhân dân và để gần với chuẩn nghèo đói của quốc tế. Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dưới 200.000đ/người/tháng, tính cho khu vực nông thôn và dưới 260.000đồng/người/tháng, tính cho khu vực thành thị. Với chuẩn nghèo này, cả nước có 22% hộ nghèo, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi, biên giới và Tây Nguyên.
Chuẩn nghèo lần 6: Ban hành ngày 30/01/2011 theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ. 10 Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đ/người/tháng (từ 6.000đ/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đ/người/năm) trở xuống. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000đ/người/tháng.
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000đ/người/tháng. Chuẩn nghèo lần 7: Chuẩn nghèo đa chiều được ban hành ngày 19/11/2015 theo Quyết định 59/QĐ/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: 11 Bảng 1.1: Chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt ở Việt Nam theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020. Chỉ số đo lường Mức độ thiếu hụt Cơ sở pháp lý - Hiến pháp 2013 NQ Hộ gia đình có ít nhất 1 15/NQ-TW Một số vấn đề 1.1 Trình độ thành viên đủ 15 tuổi sinh chính sách xã hội giai đoạn 1) Giáo giáo dục của từ năm 1986 trở lại không 2012-2020.