Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THCS ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong xây dựng , bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên , nhà giáo dục học V. Xukhômlinxki đã từng yêu cầu: “Phải bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, phát huy được tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sư phạm , phải biết lựa chọn giá o viên bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dưỡng họ trở thành những giáo viên tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng các biện pháp khác nhau”[14, tr.
Tác giả này cho rằng phải bồi dưỡng cả về chuyên môn nghiệp vụ, lẫn phẩm chất đạo đức cho đội ngũ giáo viên. Ông rất đề cao tầm quan trọng của việc tổ chức hội thảo chuyên môn, qua đó giáo viên có điều kiện trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của mình. Viết về năng lực chuyên môn của giáo viên tác giả Liakopoulou (2011) đã đưa ra khái niệm năng lực chuyên môn và phân loại “năng lực chuyên môn của giáo viên ” bao gồm các thành tố sau đây: 1) Tính cách, thái độ và niềm tin; 2) Kỹ năng sư phạm và kiến thức sư phạm (Kiến thức môn học, Kiến thức và hiểu biết về người học, phương pháp giảng dạy, Kiến thức về chương trình giảng dạy); 3) Hiểu biết về bối cảnh xã hội; 4) Hiểu biết về bản thân vầ về khoa học nói chung. Dự án Việt - Bỉ (hỗ trợ học từ xa), tác giả Michei Develay trong cuốn “Một số vấn đề về đào tạo giáo viên” đã nhấn mạnh việc đào tạo giáo viên bao gồm nhiều vấn đề như: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp…” [12, tr.
Đó là cuốn sách nhằm góp phần đổi mới sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ngày càng tốt hơn. Bên cạnh đó đã giới 6 thiệu ở Việt Nam công trình “Giáo viên rèn luyện tâm lý” của tác giả Jacques Nimier [25], trong đó, tác giả đã tiếp cận hoạt động đào tạo và BD từ phương diện tâm lý học, khẳng định rằng việc hình thành phẩm chất, năng lực của người GV không chỉ thực hiện ở các trường sư phạm là đã đủ, mà trong hoạt động thực tiễn, trong cuộc sống nghề nghiệp sau này, người GV phải luôn luôn tự rèn luyện, bồi dưỡng nhằm bổ sung, hoàn thiện nhân cách. Tác giả Fiedeich Wiliam Taylor (1856-1915); Henri Fayol (1841-1925) và Max Weber (1864-1920) chia sẻ quan điểm: Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy của xã hội. Trong bất cứ lĩnh vực nào của xã hội thì quản lý luôn giữ vai trò trong việc điều hành và phát triển.
Trong lĩnh vực GD&ĐT, quản lý là nhân tố giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục. Các Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về GD đã đề cập đến công tác BDGV như là một yếu tố quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển và hội nhập GD thế giới. Hội nghị thượng đỉnh quốc tế lần thứ nhất được tổ chức vào năm 2011 ở New York đã chia sẻ kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu khoa học trong việc nâng cao chất lượng nhà giáo cũng như chất lượng dạy và học, trong đó khẳng định việc đào tạo lại GV là một trong những chương trình hành động của GD các nước. Hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai được tổ chức vào năm 2012 đã trao đổi 3 vấn đề chính: đào tạo hiệu trưởng; chuẩn bị GV cho những kỹ năng của thế kỷ XXI; đào tạo GV để làm việc thành công ở những nơi cần họ nhất.
Nguyên tắc tích hợp và liên kết quá trình đào tạo và BD (cả quản lý và giảng dạy) được xuyên suốt trong 3 vấn đề nói trên. Vào tháng 3/2013, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ ba được tổ chức tại Amserdam đã tập trung vào chủ đề duy nhất là chất lượng GV, trong đó coi trọng cả vấn đề xác định vị trí, cách thức đào tạo ở trường đại học và quá trình BDGV trong hoạt động dạy học của họ [9]. Trong “Báo cáo tại Hội thảo ASD Armidele” (do UNESCO tổ chức, 1985), đã đề cập đến vai trò của GV trong thời đại mới: người thiết kế, tổ chức, cổ vũ, 7 cách tân. Để GV thực hiện tốt các vai trò này, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của chương trình đào tạo, BDGV, cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp dạy học tốt nhất; GV phải được đào tạo để trở thành nhà GD hơn là thợ dạy; việc dạy học phải thích nghi với người học chứ không phải buộc người học tuân theo những quy định đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền (dẫn theo [10]).
Tác phẩm “Kiểm tra đánh giá lớp học - Nguyên tắc và thực hành để giảng dạy hiệu quả” của tác giả James H.Mc Millan khẳng định rằng, năng lực của người GV trong việc “kiểm tra đánh giá lớp học để giảng dạy có hiệu quả” không chỉ được cung cấp, giảng dạy lúc đang học ở nhà trường mà phải được bổ sung, BD thường xuyên trong quá trình dạy học. Như vậy, việc BD nhất thiết phải làm thường xuyên để củng cố và phát triển năng lực nghề nghiệp của GV trong thực tiễn GD, thể hiện quan điểm “học suốt đời” của thời đại ngày nay [46]. Kết hợp hình thức, phương pháp dạy học trong quá trình đào tạo với hình thức, phương pháp BD thường xuyên, kết hợp hài hòa giữa đào tạo trong nhà trường với BD thường xuyên ngoài nhà trường trở thành một nguyên tắc phát triển bền vững nguồn nhân lực (trong đó có GD) của các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Ở các nước như: Mỹ, Hàn Quốc, Singapore… các chiến lược phát triển GD thường đều do người đứng đầu quốc gia khởi xướng và chỉ đạo.
Ở Mỹ, phương pháp đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng khá phong phú cùng với việc sử dụng các thiết bị kỹ thuật giúp người học có thể thấy trước vấn đề (dự kiến được những tình huống của tương lai) thay vì chỉ biết những gì đã có. Các phương pháp phổ biến đang áp dụng là gắn kết mô hình lý thuyết với việc nghiên cứu phân tích các điển hình thực tiễn hoặc nghiên cứu, tình huống, lựa chọn ưu tiên. Còn ở Hàn Quốc, về cơ sở đào tạo, ngoài các trung tâm, viện nghiên cứu của Nhà nước, hầu như các doanh nghiệp đều có các viện, trung tâm nghiên cứu về khoa học, công nghệ theo chuyên môn sâu của ngành, trong đó tập hợp được một số lớn các chuyên gia, tiến sĩ đầu ngành. Các tập đoàn công nghiệp 8 lớn như Sam Sung, Hyundai, Posco… đều có những trường đại học riêng thực hiện các chuyên ngành đào tạo, BD nguồn nhân lực có chất lượng cao.
Riêng ở Singapo, quốc gia này xây dựng chiến lược cán bộ thể hiện bằng kế hoạch đào tạo ngắn hạn, dài hạn, đào tạo kế nhiệm, theo phương thức tổ chức đào tạo: tập trung, từ xa. Thời gian đào tạo tối thiểu bắt buộc là 100 giờ trong một năm, trong đó 60% nội dung đào tạo về chuyên môn, 40% nội dung đào tạo liên quan đến phát triển, thực chất là bồi dưỡng những tri thức, kỹ năng chưa được cập nhật tại cơ sở đào tạo. Có nhiều khóa học khác nhau dành cho bồi dưỡng các đối tượng khác nhau. Việc thực hiện các kế hoạch, chiến lược GD, chính sách bồi dưỡng, nâng cao năng lực người GV được triển khai thực sự, thông qua bộ máy chính quyền, thông qua các cơ chế cụ thể và được đánh giá, giám sát thường xuyên (dẫn theo [8]).
“Mô hình quản lý trường học ưu việt SEM” của Singapore đã coi thành tố quan trọng trong quản lý nhà trường- đó là lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo đội ngũ GV và quản lý các hoạt động GD. Người lãnh đạo phải nêu gương sáng, có khả năng lãnh đạo, hiểu rõ mục đích, tôn trọng, khuyến khích đội ngũ GV và nhân viên. Với vai trò của mình, hiệu trưởng phải vạch ra một tầm nhìn đối với những thành tích, kết quả dự định đạt được và tạo ra một môi trường học tập lý tưởng cho học sinh và cả GV. Hiệu trưởng cần duy trì liên tục mục đích tăng cường năng lực cho GV để đối mặt với thử thách hiện tại và tương lai và luôn phấn đấu vì sự phát triển để hướng tới nền giáo dục toàn diện.
Trong mô hình này, trong các tiêu chí đánh giá lãnh đạo nhà trường, người ta chú trọng đến vấn đề lãnh đạo, quản lý công tác BD các năng lực nghề nghiệp của đội ngũ GV [37]. Thái Lan là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên. Tất cả các giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung, chương trình về nghiệp vụ quản lý theo chuyên môn quy định. Nhà nước đã đưa ra chương trình lớn thực hiện trong thập kỷ qua, đó là“Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới“ để xây dựng kế hoạch bồi 9 dưỡng cho giáo viên trong 10 năm và chương trình trao đổi, chương trình đào tạo trong nước.
Việc bồi dưỡng năng lực giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng, nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp ngắn ngày và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Tại Pakistan, Nhà nước đã xây dựng chương trình bồi dưỡng về sư phạm cho đội ngũ giáo viên và quy định trong thời gian 3 tháng, cần bồi dưỡng những nội dung gồm: giáo dục nghiệp vụ dạy học; cơ sở tâm lý giáo viên; phương pháp nghiên cứu, đánh gái và nhận xét học sinh. Tại Liên bang Nga, các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục rất quan tâ tới việc nâng cao chất lượng dạy học thông qua các biện pháp quản lý có hiệu quả. Muốn nâng cao chất lượng dạy học phảo có đội ngũ giáo viên có năng lực.
Họ cho rằng, kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên. Bàn về bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên, một số tác giả cho rằng giáo viên là những người biết nắm cơ hội học hỏi trong nghiên cứu „What makes a good teacher?“ của các tác giả Marie F.D, trao đổi các hoạt động giữa các trường với nhau, các GV đồng thời tổ chức chương trình phát triển giáo dục cho các cụm trường, các vùng miền,.