MỞ ĐẦU Bài toán cơ học kết cấu hiện nay nói chung được xây dựng theo bốn đường lối đó là: Xây dựng phương trình vi phân cân bằng phân tố; Phương pháp năng lượng; Phương pháp nguyên lý công ảo và Phương pháp sử dụng trực tiếp Phương trình Lagrange. Các phương pháp giải gồm có: Phương pháp được coi là chính xác như, phương pháp lực, phương pháp chuyển vị, phương pháp hỗn hợp, phương pháp liên hợp và các phương pháp gần đúng như: Phương pháp phần tử hữu hạn, phương pháp sai phân hữu hạn, phương pháp hỗn hợp sai phân - biến phân. Phương pháp phần tử hữu hạn là phương pháp được xây dựng dựa trên ý tưởng rời rạc hóa công trình thành những phần tử nhỏ. Các phần tử nhỏ được nối lại với nhau thông qua các phương trình cân bằng và các phương trình liên tục.
Để giải quyết bài toán cơ học kết cấu, có thể tiếp cận phương pháp này theoba mô hình gồm:Mô hình chuyển vị, xem chuyển vị là đại lượng cần tìm và hàm nội suy biểu diễn gần đúng dạng phân bố của chuyển vị trong phần tử; Mô hình cân bằng,hàm nội suy biểu diễn gần đúng dạng phân bố của ứng suất hay nội lực trong phần tử và mô hình hỗn hợp, coi các đại lượng chuyển vị và ứng suất là hai yếu tố độc lập riêng biệt. Các hàm nội suy biểu diễn gần đúng dạng phân bố của cả chuyển vị lẫn ứng suất trong phần tử. Đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài Trong luận văn này, tác giả sử dụng phương phần tử hữu hạntheo mô hình chuyển vị để xây dựng và giải bài toán dầm liên tục chịu tác dụng của tải trọng tĩnhphân bố đều. Mục đích nghiên cứu của đề tài "Phương pháp phần tử hữu hạn đối với bài toán dầm liên tục chịu tải trọng phân bố đều" 1 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 1.
Tìm hiểu và giới thiệu các phương pháp giải bài toán cơ học kết cấu hiện nay. Trình bày phương pháp phần tử hữu hạn đối với dầm chịu uốn 3. Trình bày lý thuyết dầm Euler - Bernoulli, và áp dụng Phương pháp phần tử hữu hạn để giải bài toán dầmliên tục, chịu tác dụng của tải trọng tĩnhphân bố đều. Lập chương trình máy tính điện tử cho các bài toán nêu trên.
BÀI TOÁN CƠ HỌC KẾT CẤU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI Trong chương này, trước tiên trình bày các vấn đề về phép tính biến phân, ở đây chỉ trình bày các khái niệm cơ bản; phương trình EuLer và bài toán cực trị có ràng buộc (phương pháp thừa số lagrange). Đây là những vấn đề cần thiết đối với các bài toán cơ học. Sau đó giới thiệu bài toán cơ học kết cấu (bài toán tĩnh) và các phương pháp giải thường dùng hiện nay. Phép tính biến phân - Các định nghĩa cơ bản và phương trình Euler 1.Các định nghĩa Biến phân y của hàm y(x) của biến độc lập x là một hàm của x được xác định tại mỗi giá trị của x và bằng hiệu của một hàm mới Y(x) và hàm đã có y(x): y Y ( x) y ( x).
y gây ra sự thay đổi quan hệ hàm giữa y và x và không được nhầm lẫn với số gia y khi có số gia x. Nếu cho hàm F y1 ( x), y2 ( x),. yn ( x); x thì số gia của hàm đó khi có các biến phân yi của các hàm yi được viết như sau: F F y1 y1 , y2 y2 ,.2) dx dx Nếu cho hàm F y1 ( x), y2 ( x),. y, n ( x); x thì gia số của nó tương ứng với các biến phân yi là: F F y1 y1 , y2 y2 ,.3) 3 Nếu hàm F có đạo hàm riêng liên tục bậc 2 thì số gia của nó được xác định theo (1.3) có thể viết dưới dạng chuỗi Tay-lo như sau: n F F ' 1 n n 2 F 2 F 2 F F yi yi yi yk y y ' yi' yk R 2 i 1 yi y 'i 2 i 1 k 1 yi yk yi yk yi yk ' i k ' (1.4) R 2 là đại lượng vô cùng bé bậc cao với y12 y '12 y22 y '22 .5) Tổng đầu tiên trong (1.4) tương ứng với bậc một của yi và y 'i được gọi là biến phân bậc một của hàm F có ký hiệu F, tổng thứ hai tương ứng với tích của chúng và bằng một nửa biến phân bậc hai 2 F của F.
Cực trị của phiếm hàm, phương trình Euler. Phiếm hàm I có cực tiểu (địa phương ) đối với hàm y(x) hoặc hệ hàm yi(x) nếu như tồn tại số dương để số gia Z.7) x1 x1 Đối với tất cả các biến phân y hoặc tất cả hệ biến phân yi thỏa mãn điều kiện 0 yi2 y 'i2 hoặc 0 y12 y '12 y22 y '22 . 4 Cực đại (địa phương) của Z khi Z < 0. Có hai phương pháp để tìm cực trị của(1.6): Giải trực tiếp trên phiếm hàm hoặc đưa phiếm hàm về phương trình vi phân.
Khi đưa phiếm hàm (1.6a) về phương trình vi phân thì từ (1.4) ta có điều kiện cần để phiếm hàm có cực trị là: x2 I F ( y, y ', x)dx 0 (a) x1 Với I là biến phân bậc nhất xác định theo (1.4): x2 F F I y y ' dx 0 (b) x 1 y y ' Tích phân từng phần biểu thức (b) ta sẽ có: x F 2 x2 F d F I y ydx 0 (c) y ' x1 x1 y dx y ' Khi các điểm biên là cố định thì số hạng thứ nhất của (c) bằng không x2 F y 0 y x1 Và do y tùy ý cho nên từ (c) suy ra điều kiện cần để phiếm hàm (1.6a) đạt cực trị là: F d F 0 (1.8) y dx y ' Phương trình (1.8) được gọi là phương trình Euler của phiếm hàm (1. Trong một số tài liệu, phương trình Euler thường được suy ra từ bổ đề sau: Bổ đề: Cho phiếm hàm tuyến tính trong không gian D1 (Gồm các hàm xác định được trên đoạn [x1,x2] liên tục cùng với đạo hàm cấp 1 của nó). x2 Nếu a x y( x) b( x) y '( x) dx 0 x1 5 Với mọi hàm y D1 sao cho y( x1 ) y( x2 ) 0 thì b(x) vi phân được và a(x) - b’(x)=0 Như vậy, bài toán tìm cực trị của phiếm hàm(1.6a) dẫn về giải phương trình (1.8) với các điều kiện biên đã cho. Khi phiếm hàm (1.6b) có hệ hàm yi(i=1.n) cần tìm thì ứng với mỗi yi sẽ có một phương trình Euler dạng (1.
Trong trường hợp giá trị của hàm y tại x1 hoặc x2 hoặc tại cả hai cận x1 và x2không xác định (trường hợp các biên di động) thì ứng với mỗi trường hợp như vậy, ngoài phương trình Euler (1.8) còn phải xét thêm các điều kiện biên. Trong trường hợp hàm F dưới dấu tích phân chứa các đạo hàm cấp cao x2 I F y1 , y2 ,.9) x1 thì sử dụng biến phân bậc nhất của F: F F F F i 1 yi yi ' yi '' .10) yi yi ' yi '' vào điều kiện cần (a) và bằng cách tích phân từng phần 2 lần, 3 lần … ta sẽ nhận được hệ phương trình EuLer: F d F d 2 F d 3 F .11) yi dx yi ' dx 2 yi '' dx3 yi ''' Hệ phương trình (1.11) được giải với các điều kiện biên của yi và các đạo hàm đến bậc (ri-1) của nó (rilà bậc đạo hàm của yi). Các công thức trên có thể mở rộng cho trường hợp hàm nhiều biến độc lập xi. Chú ý rằng các phương trình Euler(1.11) là điều kiện cần để các phiếm hàm (1.9) tương ứng với chúng đạt cực trị.Đối với các bài toán cơ các phương trình Euler chính là các phương trình cân bằng(sẽ thấy trong phần tiếp theo) nên chúng cũng là điều kiện đủ.
Bài toán cực trị có điều kiện - phương pháp thừa số Lagrange Bài toán đặt ra là: Cần tìm hệ hàm y1 , y2 ,., yn làm cực trị cho phiếm hàm I F y1 , y2 ,., y 'n , x dx (a) x2 x1 Với điều kiện ràng buộc j y1 , y2 ,., yn , x 0 (Với j = 1, 2, …, m; m < n) (b) n: Số hàm cần tìm ; m: số ràng buộc Ta có định lý sau: Phiếm hàm (a) đạt cực trị trên hệ hàm cần tìm y1 , y2 ,., yn với điều kiện ràng buộc (b) thì hệ hàm đó cần thỏa mãn hệ phương trình Euler sau: d 0 i =1,2,…n (c) dx yi ' yi m Với F i ( x). j được gọi là phiếm hàm Lagrange mở rộng. j 1 Các hàm i ( x) được gọi là thừa số Lagrange. Nếu bài toán có nghiệm thì (m+n) hàm yi x , i ( x) được xác định từ phương trình (c) và (b) với các điều kiện biên đã cho. (c) là điều kiện cần chứ chưa đủ.
j chứa cả yi ' vẫn dùng được. Phương pháp trực tiếp trong bài toán biến phân - phương pháp sai phân hữu hạn [ 13] Tư tưởng của phương pháp sai phân hữu hạn là xét giá trị của phiếm hàm I y x I F y, y ' , x dx ; y ( x0 ) a , x1 Chẳng hạn y( x1 ) b x0 7 Không phải trên các đường cong có thể nhận bất kỳ trong một bài toán biến phân cho trước, mà chỉ xét các giá trị của phiếm hàm trên các đường gãy khúc thiết lập từ n đỉnh cho trước có hoành độ là: x0 x , x0 2x , .