đặt vấn đề và cách chọn ân chưa thật chính xác nên đã gặp rất nhiều khó khăn mà không tìm được kết quả của bài toán một cách chính xác và đầy đủ. Phương pháp nguyên lý cực trị Gauss do GS. Hà Huy Cương đề xuất là phương pháp cho phép áp dụng nguyên lý cực trị Gauss - vốn được phát biểu cho hệ chất điểm -để xây dựng bài toán cơ học kết cấu đưới dạng tổng quát. Từ đó tìm đượckết quả chính xác của các bài toán dù đó là bài toán tĩnh hay bài toán động, bài toán tuyến tính hay bài toán phi tuyến.
Đối tượng, phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài Trong luận văn này, tác g1ả sử dụng phương pháp nguyên lý cực trị Gauss nói trên để xây dựng và giải bài toán dầm chịu uốn có xét đến biến dạng trượt ngang đo lực cắt gây ra, chịu tác dụng của tải trọng tĩnh. Do sự cần thiết của việc nghiên cứu nội lực và chuyển vị của kết cầu chịu uốn có xét đến biến dạng trượt, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này là: Mục đích nghiên cứu của đề tài %Nghiên cứu nội lực và chuyển vị của hệ dằm có xét đến biến dụng trượt ngang” Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 1. Tìm hiểu và giới thiệu các phương pháp xây dựng và các phương pháp giải bài toán cơ học kết cấu hiện nay. Trinh bay Phuong phap Nguyén ly cuc tri Gauss do GS.
Ha Huy Cuong dé xuất, với các ứng dụng trong cơ học môi trường liên tục nói chung và cơ học vật rắn biến dạng nói riêng. Giới thiệu lý thuyết xét biến dạng trượt đối với bài toán kết cầu đầm chịu uốn với việc dùng hai hàm chưa biết là hàm độ võng y và hàm lực cắt Q. Xây dựng và giải bài toán đầm có xét đến biến dạng trượt, chịu tác đụng của tải trọng fĩnh. Lập chương trình máy tính điện tử cho các bài toán nêu trên.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Việc xác định nội lực và chuyền vị của kết cấu chịu uốn đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, ké cả bài toán có xét đến lực cắt ngang Q. Trong các nghiên cứu đó các tác giả đã sử dụng lý thuyết dầm truyền thống, lý thuyết đầm Euler — Bernoulli (Lý thuyết không đầy đủ về dầm, bỏ qua thành phần biến dạng trượt ngangdo lực cắt Q gây ra) đề xây dựng bài toán.Khi xây dựng các công thức tính toán nội lực và chuyền vị, giả thiết Bernoulli — giả thiết tiết điện phẳng (tiết diện dầm trước và sau khi biến dạng vẫn phẳng và vuông góc với trục trung hòa) được chấp nhận, tức là góc trượt do lực cắt Q gây ra đã bị bỏ qua, quan niệm tính toán này làm ảnh hưởng không nhỏ tới độ chính xác của kết quả các bài toán. Một số tác giả như XP. Thomson ciing da đề cập tới ảnh hưởng của biến dạng trượt khi phân tích kết cấu chịu uốn, nhưng vấn đề thường được bỏ ngỏ hoặc không được giải quyết một cách triệt để kế cả trong các lời giải số.
Khắc phục được những ton tại nêu trên của các tác giả khác chính là ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, ý nghĩa khoa học đó nằm ở chỗ đề tài đã xây dựng được lý thuyết đầm có xét đến ảnh hưởng của biến đạng trượt ngang do lực cắt Q gây ra (Lý thuyết đầy đủ hay lý thuyết tổng quát về dầm) khi nghiên cứu nội lực và chuyên vị của đầm và khung chịu tác dụng của tải trọng tĩnh, tìm được kết quả chính xác của các bài toán đồng thời đưa ra được kết luận “ Lý thuyết đầm Euler — Bernoulli thường dùng hiện nay chỉ là một trường hợp riêng của Lý thuyết đầm này”. CÁC PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢIBÀI TOÁN CƠ HỌC KÉT CẤU Trong chương này trình bày các phương pháp truyền thống đề xây dựng các bài toán cơ học nói chung; giới thiệu bài toán cơ học kết cầu (bài toán tĩnh) và các phương pháp giải thường dùng hiện nay. Phương pháp xây dựng bài toán cơ học Bốn phương pháp chung dé xây dựng bài toán cơ học kết cấu được trình bày dưới đây. Dùng lý thuyết dầm chịu uốn để minh họa.
Phương pháp xây dựng phương trình vi phân cân bằng phân tố Phương trình vi phan can bang được xây dựng trực tiếp từ việc xét các điều kiện cân bằng lực của phân tố được tách ra khỏi kết cấu.Trong sức bền vật liệu khi nghiên cứu dầm chịu uốn ngang sử dụng các giả thiết sau: - _ Trục dầm không bị biến dạng nên không có ứng suất. - Mặt cắt thăng góc với trục dầm sau khi biến dạng vẫn phẳng và thắng góc với trục dầm (giả thiết Euler-Bernoulli). -_ Không xét lực nén giữa các thớ theo chiều cao của dam Với giả thiết thứ ba thì chỉ có ứng suất pháp ơ, và các ứng suất tiếp ơ„;, ø„x tác dụng lên phân tố dầm (hình 1.3), ứng suất pháp o, bang khong. Hai giả thiết thứ ba và thứ nhất dẫn đến trục dầm chỉ có chuyền vị thắng đứng y(x) và nó được gọi là đường độ võng hay đường đàn hồi của dầm.
Giả thiết thứ nhất xem chiều dài trục dầm không thay đổi khi bị võng đòi hỏi độ võng của dầm là nhỏ so với chiều cao dầm, y„a„/ h < 1/5. Với giả thiết thứ hai thì biến dạng trượt do ứng suất tiếp gây ra không được xét trong tính độ võng của dầm như trình bày dưới đây. Giả thiết này chỉ đúng khi tỉ lệ h/1 < 1/5. Chuyển vị ngang u của điểm năm ở độ cao z so với trục dâm bắng SI | U= —Z— TTH N a = Biến dạng và ứng suất xác định Hình 1.
Phân tổ dầm như sau d’y d’y # =-z——;Ơ =_- —. dy) ` dx’ Momen tác dung lên trục dâm: h/2 xa 3 2 =| - “2 de=- d y Li 12 dx hay M=EJy (1.7) Ebh'` d’y trong do: EJ = >Y=- 5 12 # dx? EJ được gọi là độ cứng uốn của dầm; x là độ cong của đường đàn hồi và sẽ được gọi là biến dạng uốn;b là chiều rộng dầm. Đề đơn giản trình bày, ở đây chỉ dùng trường hợp dầm có tiết diên chữ nhật. Cách tính nội lực momen ở trên không xét đến biến dạng trượt do các ứng suất tiếp gây ra.
Tổng các ứng suất tiếp ơ„x trên mặt cắt sẽ cho ta lực cắt Q hI tác dụng lên trục dầm: O= Jo.dz ~Ä/2 Biểu thức của ứng suất tiếp 6, trong tích phân trên sẽ trình bày sau. Nhờ các giả thiết nêu trên, thay cho trạng thái ứng suất trong dầm, ta chỉ cần nghiên cứu phương trình cân bằng của các nội lực M và Q tác dụng lên trục dầm. Xét phân tố dx của trục dầm chịu tác dụng của các lực M,Q và ngoại lực phân bố q, hình 1. Chiều dương của M, Q và q trên hình vẽ tương ứng với chiều dương của độ võng hướng xuống dưới.
Q x M+ dM M 6, 1 2iQ+dQ dx Hình 1. Xét cân bằng phân tố Lây tông momen đôi với điêm Òs, bỏ qua các vô cùng bé bậc cao ta có dM 7, 2°? (1.8) Lấy tông hình chiếu các lực lên trục thăng đứng: = +q=0 (1.9) Phương trình (1.8) là phương trình liên hệ giữa momen uốn và lực cắt, phương trình (1.9) là phương trình cân bằng lực cắt Q và ngoại lực phân bố q. Đó là hai phương trình xuất phát (hai phương trình đầu tiên) của phương pháp cân bằng phân tố.Lấy đạo hàm phương trình (1.8) theo x rồi cộng với phương trình (1.9), ta có phương trình dẫn xuất sau d?M 2 +q=0 (1.10) dx Thay M xác định theo (1.10) nhận được phương trình vi phan xác định đường đàn hồi của thanh d1 Tả =4 (1.11) tJ Phương trình (1.11) được giải với các điều kiện biên của y và các đạo hàm đến bậc ba của y (4 điều kiện), hai điều kiện biên tại mỗi đầu cuối thanh. Các điều kiện biên thường dùng như sau a) Liên kếtkhớp tại x=0: Chuyển vibang khong, " =0, momen uốn #⁄ =0, Suy ra cy =0 x0 b) Lién két ngam tai x=0: Chuyén vị bằng không, y|_„ =0.
góc xoay bằng không, “ =0 xe0 c) không có gối tua tai x=0: Momen uốn M =0, suy ra dy =0; lực cắt Q=0, suy ra dy =0 dx’ |, dx’ |, Các điều kiện tại x=l cũng lấy tương tự như trên. Bây giờ tìm hiểu sự phân bố ứng suất tiếp øxx trên chiều dày h của dầm. Trước tiên viết phương trình cân bằng ứng suất trên trục x như sau 3 _ 007”, + Oo, =0 hay 00,, _ O05, © _r„4 » Ox oz oz Ox dx 2 3 Tích phan phuong trinh trén theo z: ø, =— S : » +C(x) x Hàm c(+) xác định từ điều kiện ứng suất tiếp bằng không tại mặt trên và mặt ` h 2 13 dưới dâm, z=#+~. Ta có: C(x)= Eh d y 2 8 dx Ứng suất tiếp phân bố trên mặt cắt dầm có dạng EdÌy( ; „;› Ø,„=-=— 4z°-h _—.
Đó là hàm parabol bậc hai.Ứng suất tiếp lớn nhất tại trục dầm (z=0) có giá trị bằng _ Eh’ d’y z=0 8 dx) xz Tích phân hàm ứng suất tiếp theo chiều cao dầm rồi nhân với chiều rộng b ta có lực cắt Q tác dụng lên phần trái của đầm Ebh` d`y g= 12 dx Eh’ d’y 12 dx Ung suat tiép trung binh trén chiéu cao dam bang: ov = Ti 1é giữa ứng suất tiếp max tại trục dầm va tng suat trung binh o=1. Phuong phap nang luong Nang luong cua co hé bao gồm động năng T và thế năng II. Động năng được xác định theo khối lượng và vận tốc chuyển động, còn thế năng II bao gồm thế năng biến dạng và công của các trường lực, phụ thuộc vào chuyển VỊ. Trường lực là lực có thế như lực trọng trường.
Các lực ngoài tác dụng lên cơ hệ là lực không thế. Đối với hệ bảo toàn, năng lượng là không đồi T+ II = const (1.12) Do đó tốc độ thay đổi năng lượng phải bằng không “(T+ 11) =0 (1.13) Ta xét bai toan tinh, T=0, do do II = const (1.14) Thé năng II có thể biểu thị qua ứng suất và nội lực cũng có thể biểu thị qua chuyên vị và biến dạng. Vì vậy ta có hai nguyên lý biến phân năng lượng sau: Nguyên lý thế năng biến dạng cực tiêu Khi phương trình cân bằng được biểu thị qua ứng suất hoặc nội lực và do đó thế năng biến dạng cũng biểu thị qua ứng suất hoặc nội lực ta có nguyên lý thế năng biến dạng cực tiểu, nguyên lý Castiliano (1847-1884).