CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tính cấp thiết của đề tài: Các ngành kỹ thuật đang đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta hiện nay. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, ngành công nghệ kỹ thuật nhiệt cũng đang từng bước cải thiện để đáp ứng các nhu cầu trong công nghiệp cũng như đời sống. Một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu để tâm nhất hiện nay đó là vấn đề về kích thước của các thiết bị, hệ thống.
Các thiết bị giải nhiệt – làm mát là một trong những thiết bị được đòi hỏi có kích thước nhỏ gọn để thuận tiện cho việc lắp đặt cũng như về hiệu suất làm việc của thiết bị. Cùng với vấn đề về kích thước thì những yêu cầu về hiệu quả, công suất, giá thành cũng đang được đòi hỏi để có thể đáp ứng được nhiều lĩnh vực. Nắm bắt được những đòi hỏi đó, các nhà khoa học không ngừng nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm theo nhiều chiều hướng khác nhau. Nhiều thí nghiệm đã được thực hiện để có thể thu hẹp được kích thước và khả năng chiếm diện tích của thiết bị mà vẫn có hiệu quả tốt, chi phí chế tạo, lắp đặt hợp lý.
Trong những năm đầu của thập niên 80 thế kỷ 20, công nghệ micro được rất nhiều nhà khoa học áp dụng nghiên cứu vào những bộ tản nhiệt và kết quả thu được ngày càng tốt hơn như khả năng trao đổi nhiệt tăng lên, kích thước của những bộ tản nhiệt giảm xuống, hiệu suất truyền nhiệt ngày càng cải thiện. Đây là chìa khóa để phát triển sản xuất những bộ tản nhiệt nhỏ gọn có hiệu suất cao đáp ứng tốt theo sự đòi hỏi của người tiêu dùng ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Để tiếp nối những nghiên cứu trước đây, đề tài đã quyết định tìm hiểu và nghiên cứu quá trình tản nhiệt của thiết bị tản nhiệt kênh micro loại cánh xoắn. Từ đó, đưa ra những quan điểm, phương pháp góp phần tối ưu hóa cho khả năng truyền nhiệt của thiết bị tản nhiệt kênh micro.
Tổng quan các nghiên cứu liên quan: Liên quan đến các kết quả nghiên cứu về truyền nhiệt micro, năm 1981 Tuckerman và Pease [1] đã nghiên cứu chức năng của bộ tản nhiệt kênh micro. Thiết bị được gia công ở mặt sau của các thành phần điện tử trong mạch tích hợp. Nhiệt được tạo ra bởi các thành phần điện tử được chuyển đến chất làm mát bằng cách đối lưu cưỡng bức. Kích thước của các kênh làm giảm độ dày của lớp ranh giới nhiệt, làm giảm sức cản đối lưu với truyền nhiệt, do đó tạo ra tốc độ làm mát cao.
Vào những năm 1984, Tuckerman [2] cho rằng với các vi mạch thì việc dùng dòng chảy tầng là tốt nhất để giải nhiệt, do lớp biên nhiệt độ mỏng. Ông đã thiết kế bộ tản nhiệt vi kênh với các kích thước khác nhau để nghiên cứu về ma sát và truyền nhiệt, ông cũng đã phát triển một quy trình tối ưu hóa để dự đoán tỉ lệ, biên dạng tốt nhất của kênh để đạt được truyền nhiệt tốt nhất. Ông chỉ sử dụng nước dạng lỏng làm chất làm mát trong các thí nghiệm của mình. Khi kiểm tra sự ma sát, ông và cộng sự phát hiện ra rằng độ giảm áp lớn hơn nhiều so với dự đoán.
Ngoài ra, giá trị nhiệt trở thu được xác định là T / qw đối với dòng nhiệt một chiều, thấp hơn 20 lần so với các thiết bị làm mát khác được sử dụng để làm mát mạch tích hợp vào thời điểm đó. Kể từ khi công trình của Tuckerman trong thập niên 1980, nhiều cuộc nghiên cứu đã được thực hiện về cơ chế trong bồn tản nhiệt kênh micro. Nghiên cứu truyền nhiệt và sự tích tụ trong tản nhiệt vi kênh có thể được chia thành hai phần phụ, tùy thuộc vào giai đoạn của chất làm mát mà chúng thông qua. Năm 2017, Hung-Son Dang và các cộng sự [3] nghiên cứu thiết kế bộ tản nhiệt kệnh micro với biên dạng kênh dẫn tuân theo chuỗi số Fibonacci cùng với việc sử dụng phần mềm Ansys Fluent để mô phỏng số, số liệu thu thập được phân tích bằng phần mềm Minitab và ứng dụng phương pháp Taguchi để tối ưu hoá thiết bị.
Kết quả cho thấy các thông số thiết kế tối ưu, là điện trở nhiệt trên một đơn vị diện tích, giảm áp suất và vận tốc đầu ra (với các giá trị 0.913 m/s) đạt được đối với thiết kế tản nhiệt kênh xoắn ốc Fibonacci. Năm 2016, Hung-Son Dang và các cộng sự [4] đã dùng phương pháp mô phỏng số bằng phần mềm Ansys 14 để dụ đoán quá trình tuyền nhiệt và độ sụt của bộ 3 Luan van tản nhiệt kênh xoắn micro theo chuỗi Fibonacci qua đánh giá thấy được rằng trong các yếu tố được xét đến trong nghiên cứu là số lượng kênh dẫn, chiều cao kênh dẫn, chiều rộng kênh dẫn và lưu lượng nước đi vào bộ tản nhiệt thì hai yếu tố chiều cao và chiều rộng kênh có ảnh hưởng đặc biết nhất đến độ sụt áp và mô hình tối ưu cho điều kiện này tìm được độ sụt áp là 61.2 kPa, còn hai yếu tố số lượng kênh và lưu lượng nước đi vào thiết bị ảnh hưởng đặc biệt đến quá trình truyền nhiệt với nhiệt trở tìm được là 0.615 C/Wm2 cho mô hình tối ưu. 2017, Hung-Son Dang và các cộng sự [5] nghiên cứu thiết kế bộ tản nhiệt kênh micro nhiều lớp với vật liệu nhựa silicon bằng phương pháp Taguchi, kết quá chỉ ra rằng trong các thống số được xem sét trong nghiên cứu bao gồm chiều cao kênh, chiều rộng kênh, chiều dài của vật liệu và chiều cao của dòng lưu chất tại đầu vào kênh thì chiều rộng kênh có ảnh hương nhiều nhất đến độ sụt áp và nhiệt trở của mô hình. Năm 2017, Hung-Son Dang và cộng sự [6] đã nghiên cứu thiết kế bộ tản nhiệt kênh micro kép bằng phương pháp 6 sigma, kết quả thu được độ sụt áp nhỏ nhất là 0.1187 kPa và độ sụt áp của thiệt bị chịu sự ảnh hưởng đặc biệt từ vận tốc dòng lưu chất tại đầu vào, chiều cao đầu ra của thiết bị và chiều rộng của kênh dẫn.
Bên cạnh đó với mô hình tối ưu nghiên cứu thu được độ sụt áp và nhiệt trở nhỏ nhất lần lượt là 9. Li và cộng sự [7] nghiên cứu ảnh hưởng của độ nhám bề mặt trên số Reynolds chuyển đổi trong các vi mạch. Họ đã tiến hành các thí nghiệm sử dụng microchannels thép không gỉ với đường kính 128.8 µm và độ nhám bề mặt tương đối giữa 0. Kết quả của họ cho thấy rằng đối với các giá trị lý thuyết của các số Reynolds dao động từ 500 đến 2000, hệ số ma sát cao hơn khoảng 10 đến 25% về giá trị.
Số Reynolds chuyển đổi từ chế độ dòng chảy tầng quá chảy rồi là khoảng 1800. Năm 2003, Guo và Li [8] đã trình bày nghiên cứu toàn diện của họ về tác động của micro kích thước trên hệ số ma sát bề mặt. Trong thử nghiệm, họ sử dụng thủy tinh mịn và các vi mạch silic với đường kính từ 80 đến 166 µm, môi chất làm việc là 4 Luan van nước. Kết quả các vi mạch mịn có hệ số ma sát và số Reynolds xấp xỉ bằng 64, đó là trường hợp của các ống thông thường.
Gao và cộng sự [9] cũng nghiên cứu số Reynolds chuyển đổi trong các vi mạng bằng cách khảo sát nó thay đổi như thế nào với chiều cao kênh. Chiều rộng và chiều dài kênh lần lượt là 25 mm và 82 mm, trong khi chiều cao kênh dao động từ 0,1 mm đến 1 mm. Số Reynolds chuyển tiếp được cho các kênh phẳng là 4000, số Reynolds chuyển tiếp hầu như không bị ảnh hưởng bởi chiều cao kênh. Nghiên cứu về mô hình của kênh micro cũng đã được thực hiện bởi Park cùng cộng sự [10].
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra và phân tích một mô hình toán học có thể ước tính được lưu lượng cũng như đặc tính tản nhiệt cho sự bay hơi ở vùng màng mỏng. Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của sự thay đổi áp suất bay hơi trên dòng chảy màng của chất lỏng là có đáng kể. Từ bài nghiên cứu cũng có thể thấy rằng khi dòng nhiệt tăng, chiều dài của vùng màng mỏng và độ dày màng giảm, lưu lượng khối lượng bay hơi tăng một cách tuyến tính. Law cùng cộng sự [11] đã khảo sát thực nghiệm và so sánh dòng nhiệt khi sôi cùng với đặc tính áp suất của kênh micro cánh thẳng và cánh xiên.
Ở kích thước kênh và điều kiện hoạt động tương tự nhau, các thí nghiệm so sánh đã cho thấy hiệu quả truyền nhiệt tăng đáng kể đối với kênh micro sử dụng cánh thẳng và dòng nhiệt trao đổi chậm hơn ở giai đoạn đầu đối với kênh micro sử dụng cánh xiên. Ảnh hưởng của dòng nhiệt, lưu lượng khối lượng và kích thước kênh đến hiệu suất dòng nhiệt khi sôi trong kênh micro lõm, rỗng được thực hiện bởi Deng cùng cộng sự [12]. Một loại kênh micro lõm trong nghiên cứu này được phát triển và thử nghiệm trong các hệ thống làm mát - tản nhiệt. Những ảnh hưởng của dòng nhiệt, lưu lượng khối lượng và kích thước kênh đến hiệu suất dòng sôi được khảo sát.
Kết quả thí nghiệm cho thấy, hiệu suất truyền nhiệt của kênh micro lõm, rỗng phụ thuộc nhiều vào các dòng nhiệt nhưng lại ít phụ thuộc vào lưu lượng khối lượng. Henstroni và các cộng sự [13] đã nghiên cứu mô hình dòng chảy và hệ số truyền nhiệt trong kênh micro dạng tam giác song song với đầu vào Reynolds là 25. Nghiên cứu dòng chảy cho thấy hình dạng của bong bóng hơi dài, xuất hiện trong 5 Luan van kênh micro khi hệ số Reynolds thấp, không tương tự như dòng hình vành khuyên với sự gián đoạn xen kẽ giữa dòng lỏng và hai dòng hơi dài. Sự nghiên cứu đồng thời mô hình thực nghiệm và đo lường đã được thực hiện để khảo sát sự không ổn định của dòng chảy sôi của nước trong kênh micro với dòng nhiệt và khối lượng khác nhau.
Hai thí nghiệm dòng chảy sôi riêng biệt đã được tiến hành trong tám kênh micro song song và một kênh micro duy nhất. Zhang và các cộng sự [14] đã phát triển các thiết bị kiểm tra silicon với điều kiện biên mật độ dòng nhiệt gần như không đổi để nghiên cứu quá trình sôi đối lưu cưỡng bức trong kênh micro.