phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – chi nhánh TP.Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – chi nhánh TP.Hồ Chí Minh.minh download by : skknchat@gmail.minh 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về thẻ tại các ngân hàng thƣơng mại 1.
Sự hình thành và phát triển của thẻ ngân hàng Từ cuối những năm 1800, dựa trên uy tín và sự tin tƣởng, những nhà buôn và ngƣời tiêu dùng Mỹ đã sử dụng một số loại xu hay tấm thẻ thay cho tiền mặt khi muốn trao đổi hàng hóa. Năm 1946, thẻ ngân hàng đầu tiên xuất hiện và mang tên Chart-It, do John Biggins ở Brooklyn (New York) nghĩ ra. Khi khách hàng mua sắm, hóa đơn sẽ đƣợc chuyển đến ngân hàng của Biggins. Ngân hàng sẽ trả tiền cho ngƣời kinh doanh và sau đó khách hàng trả tiền cho ngân hàng.
Hạn chế của loại thẻ này là chỉ đƣợc sử dụng trong phạm vi địa phƣơng và phải là khách hàng của ngân hàng. Năm 1949, tiền thân của thẻ tín dụng ra đời. Một ngƣời đàn ông tên Frank McNamara đi ăn tại một nhà hàng, khi thanh toán ông nhận ra mình không mang tiền theo và phải gọi vợ đến trả. Sau hôm đó, ông đã nghĩ ra một cách thanh toán không dùng tiền mặt.
Ông đã thành lập ra công ty Diners Club, phát hành loại thẻ chuyên dùng thanh toán tại các nhà hàng. Chỉ trong thời gian ngắn đã có nhiều nhà hàng chấp nhận thanh toán bằng loại thẻ đó và lan rộng sang các lĩnh vực khác nhƣ du lịch, giải trí. Năm 1958, ngân hàng Bank of America thành lập công ty dịch vụ BankAmericard nhằm kinh doanh nhƣợng quyền thƣơng hiệu và phát hành thẻ với các ngân hàng trên thế giới. Công ty nhanh chóng phát triển và trở thành nhà phát hành thẻ tín dụng độc lập mang thƣơng hiệu VISA vào những năm 1970 và phát hành thẻ debit năm 1975.
Với công nghệ sáng tạo của thẻ VISA đã giúp cho khách hàng có thêm nhiều sự lựa chọn cho mục đích sử dụng: thanh toán ngay với thẻ ghi nợ, thanh toán trƣớc với thẻ trả trƣớc, hoặc thanh toán sau với thẻ tín dụng. Năm 1966, tiền thân MasterCard ra đời. Khi đó, Hiệp hội thẻ liên ngân hàng Mỹ (ICA) đƣợc thành lập bởi một nhóm ngân hàng phát hành thẻ. Họ cùng thiết kế hệ luan.minh download by : skknchat@gmail.minh 9 thống thẻ tín dụng quốc gia.
Ngày nay, VISA và MasterCard là hai tổ chức thẻ lớn nhất thế giới. Ngoài ra, còn có nhiều nhà tổ chức thẻ khác nhƣ American Express, Diners Club,. Các lại thẻ này đã du nhập vào Việt Nam từ đầu những năm 90. Khái niệm thẻ ngân hàng Khái niệm về thẻ ngân hàng, có nhiều cách nhìn nhận.
Tuỳ từng góc độ nghiên cứu, phân tích, ngƣời ta đƣa ra các khái niệm về thẻ ngân hàng khác nhau. Song điểm chung nhất là thẻ ngân hàng là một phƣơng tiện thanh toán, chi trả mà ngƣời sở hữu thẻ có thể dùng để thoả mãn nhu cầu về tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt hoặc sử dụng nó làm công cụ thực hiện các dịch vụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp. Thẻ không hoàn toàn là tiền tệ, nó là biểu tƣợng về sự cam kết của ngân hàng hoặc tổ chức phát hành bảo đảm thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của ngân hàng cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ đã gửi tại ngân hàng. Nhƣ vậy, trên từng góc độ có những khái niệm khác nhau: - Từ góc độ phát hành: thẻ là một phƣơng tiện do ngân hàng, các định chế tài chính hoặc các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt.
- Từ góc độ công nghệ thanh toán: thẻ là phƣơng thức thanh toán ghi sổ điện tử số tiền của các giao dịch cần thanh toán, thực hiện trên hệ thống thanh toán đƣợc kết nối giữa các chủ thể tham gia dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng và tin học viễn thông. - Theo quyết định 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999 của Thống Đốc ngân hàng Nhà Nƣớc và xét theo mục đích sử dụng: thẻ ngân hàng là một phƣơng tiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ không dùng tiền mặt hoặc có thể rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động, các ngân hàng đại lý, các điểm chấp nhận thẻ. Từ đó, khái niệm thẻ ngân hàng có thể đƣợc hiểu là: thẻ ngân hàng có chức năng sử dụng đa năng. Chủ thẻ có thể kết nối với các chủ thể khác nhau tham gia hệ thống thanh toán thẻ phục vụ quá trình lƣu chuyển hàng hóa, tiền tệ đƣợc thỏa thuận trƣớc nhằm thực hiện các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của mình.minh download by : skknchat@gmail.
Phân loại thẻ ngân hàng 1. Phân loại theo đặc tính kỹ thuật - Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ đƣợc khắc nổi các thông tin cần thiết: số thẻ, tên chủ thẻ, thời hạn sử dụng. Ngày nay, ngƣời ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật của nó quá thô sơ, dễ bị lợi dụng, làm giả. - Thẻ băng từ (Magnetic Card): dựa trên kỹ thuật thƣ tín với hai băng từ chứa thông tin đằng sau mặt thẻ, toàn bộ thông tin liên quan đến chủ thẻ và thẻ đều đƣợc mã hoá trong băng từ.
Loại thẻ này phổ thông nhất trên thế giới đƣợc ra đời ngay từ thời kỳ đầu của ngành công nghiệp thẻ. Cùng với kỹ thuật in hình chìm nhiều lớp biểu tƣợng và hologram, cộng thêm in ảnh và chữ ký của khách hàng trên thẻ, các nhà phát hành thẻ đã làm cho loại thẻ này tăng thêm tính bảo mật và an toàn trong sử dụng và thanh toán thẻ. Thẻ này bộc lộ một số nhƣợc điểm: thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá đƣợc, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng đƣợc kỹ thuật mã hoá, bảo mật thông tin. - Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán.
Là loại thẻ có đặt một chíp điện tử tƣơng tự nhƣ một máy tính cực nhỏ trên thẻ trong đó lƣu trữ tất cả các thông tin về thẻ, chủ thẻ nhƣ thẻ từ. Thêm vào đó, chip này còn lƣu trữ số dƣ tài khoản thẻ hoặc hạn mức tín dụng của loại thẻ này là tính an toàn và bảo mật rất cao. Phân loại theo chủ thể phát hành - Thẻ do ngân hàng phát hành: đây là loại thẻ do ngân hàng cung cấp cho khách hàng, giúp khách hàng sử dụng linh hoạt tài khoản của mình hoặc sử dụng số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Loại thẻ này đƣợc sử dụng khá phổ biến, nó không chỉ lƣu hành trong một số quốc gia mà còn có thể lƣu hành trên toàn cầu nhƣ thẻ VISA, MasterCard.
- Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch hoặc giải trí do các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành nhƣ Diners Club, Amex và đƣợc lƣu hành trên toàn cầu.minh download by : skknchat@gmail. Phân loại theo tính chất thanh toán - Thẻ tín dụng (Credit Card): là một hình thức thay thế cho việc thanh toán trực tiếp. Chủ thẻ không cần phải trả tiền mặt ngay khi mua hàng. Thay vào đó ngân hàng sẽ ứng trƣớc tiền cho ngƣời bán và chủ thẻ thanh toán lại sau cho ngân hàng khoản giao dịch.
Thẻ tín dụng cho phép khách hàng trả dần số tiền thanh toán trong tài khoản. Chủ thẻ không phải thanh toán toàn bộ số dƣ trên bảng sao kê giao dịch hằng tháng. Tuy nhiên, chủ thẻ phải trả khoản thanh toán tối thiểu trƣớc ngày đáo hạn đã ghi rõ trên bảng sao kê. - Thẻ ghi nợ (Debit Card): đây là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi.
Loại thẻ này đƣợc sử dụng để mua hàng hoá hay dịch vụ, giá trị những giao dịch sẽ đƣợc khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, khách sạn. đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, khách sạn. Thẻ ghi nợ còn hay đƣợc sử dụng để rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dƣ hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ.
Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản: + Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đƣợc khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ. + Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đƣợc khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ - Thẻ trong nước: là loại thẻ đƣợc giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền đƣợc sử dụng trong giao dịch là đồng bản tệ của quốc gia đó. Các ngân hàng phát hành và các đơn vị chấp nhận loại thẻ này cũng đƣợc đặt trong nƣớc, loại thẻ này cũng chỉ đƣợc lƣu hành tại nƣớc đó.
- Thẻ quốc tế: là loại thẻ đƣợc chấp nhận thanh toán trên toàn cầu, sử dụng ngoại tệ mạnh để thanh toán. Thẻ này đƣợc phát hành bởi các ngân hàng trong nƣớc và ngân hàng quốc tế, các tổ chức tài chính là thành viên của hiệp hội thẻ quốc tế.minh download by : skknchat@gmail.minh 12 Loại thẻ này có thể đƣợc sử dụng ở khắp nơi trên thế giới giống nhƣ là thẻ VISA, MasterCard,… và đƣợc khách hàng ƣa chuộng do tính thuận lợi và an toàn. Phân loại theo đối tượng sử dụng - Thẻ cá nhân: là thẻ đƣợc phát hành cho các cá nhân có nhu cầu và đáp ứng đƣợc đủ các điều kiện phát hành thẻ. Chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu thẻ bằng nguồn tiền của bản thân mình.
Thẻ cá nhân có hai loại thẻ chính và thẻ phụ: + Thẻ chính: do cá nhân đứng tên xin phát hành thẻ cho chính mình sử dụng và cá nhân đó là chủ thẻ chính. + Thẻ phụ: chủ thẻ chính xin phát hành thẻ phụ cho ngƣời khác sử dụng (chủ thẻ phụ). Chủ thẻ chính chịu trách nhiệm toàn bộ chi tiêu của chủ thẻ phụ. - Thẻ công ty: là loại thẻ tín dụng dùng cho công ty thanh toán trong hoạt động kinh doanh của mình.