phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thạch Thất. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ của Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thạch Thất. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, nó cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngƣợc lại nó nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau. Nghiệp vụ kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại rất phong phú và đa dạng cùng với sự phát triển của khách hàng, khoa học kỹ thuật kinh tế và xã hội, hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại cũng có nhiều phƣơng pháp mới, nhƣng các nghiệp vụ kinh doanh về cơ bản không thay đổi là nhận tiền gửi và hoạt động cho vay, đầu tƣ. Qua Ngân hàng thƣơng mại các chính sách tài chính tiền tệ của Quốc gia sẽ đƣợc thực hiện một cách nhanh chóng và cũng nhờ nó mà việc kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp theo đúng luật pháp đƣợc dễ dàng hơn.
Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Ngân hàng thƣơng mại luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội. Trong cơ chế thị trƣờng, các Ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức tín dụng cũng là các doanh nghiệp nhƣng chúng là những doanh nghiệp đặc biệt vì tài sản trong quá trình kinh doanh của các Ngân hàng thƣơng mại đều phụ thuộc vào các khách hàng. Mặt khác, hàng hóa mà các Ngân hàng kinh doanh là tiền tệ, một loại hàng hóa đặc biệt, nó rất nhậy cảm với sự biến đổi của thị trƣờng và tình hình kinh tế xã hội. Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dƣới hình thức huy động, cho vay, đầu tƣ và cung cấp các dịch vụ khác.
Huy động vốn - hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thƣơng mại – đóng vai trò quan trọng, ảnh hƣởng tới chất lƣợng hoạt động của ngân hàng. Tóm lại, NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, ngân hàng thƣơng mại còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Khái niệm dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại Cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, các điểm/đơn vị chấp nhận thẻ, song song với đó là những tính năng ƣu việt nhƣ giao dịch nhanh chóng, đơn giản, thuận tiện nhƣng vẫn đảm bảo đƣợc độ an toàn, thẻ ngân hàng đang ngày càng đƣợc đông đảo ngƣời dân tin dùng bên cạnh các phƣơng tiện thanh toán khác nhƣ tiền mặt, séc, ủy nhiệm chi/ủy nhiệm thu.
Thẻ ngân hàng thông thƣờng đƣợc thiết kế là một miếng nhựa (plastic) có kích thƣớc tiêu chuẩn (thƣờng là 8,5 cm *5,5 cm) và có một băng từ ở mặt sau lƣu trữ thông tin về chủ thẻ, cũng có thể có chíp điện tử để lƣu trữ các thông tin, dữ liệu khác. Trên chiếc thẻ nhựa thƣờng có tên hoặc logo của tổ chức phát hành thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực của thẻ, số thẻ, logo của tổ chức thẻ quốc tế (nhƣ Visa, MasterCard, JCB) hoặc tổ chức chuyển mạch thẻ trong nƣớc (nhƣ Banknetvn). Ngoài ra, trên thẻ còn có một số thông tin hữu ích khác nhƣ số điện thoại chăm sóc khách hàng, website của tổ chức phát hành thẻ để chủ thẻ có thể liên hệ trong các trƣờng hợp cần thiết. Trên thế giới hiện nay đã xuất hiện loại thẻ phi vật lý (thẻ ảo) mà tổ chức phát hành thẻ cấp cho chủ thẻ để giao dịch qua internet, điện thoại di động mà không cần in ra thẻ vật lý (thẻ nhựa thông thƣờng).
Tại Việt Nam cũng đã có một vài ngân hàng thí điểm thử nghiệm loại thẻ này. Tham gia vào quá trình thanh toán thẻ gồm có các tổ chức phát hành thẻ, khách hàng sử dụng thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ. Trong đó: - Các tổ chức phát hành thẻ hiện nay bao gồm các ngân hàng thƣơng mại, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài tại Việt Nam và một số công ty tài chính. - Khách hàng sử dụng thẻ hay còn gọi là “chủ thẻ” là các cá nhân hoặc tổ chức đƣợc tổ chức phát hành thẻ cung cấp thẻ để sử dụng, bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ.
Chủ thẻ chính là cá nhân hoặc tổ chức đứng tên ký hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ với tổ chức phát hành; Chủ hẻ phụ là cá nhân đƣợc chủ thẻ chính cho phép sử dụng thẻ và chủ thẻ chính cam kết bằng văn bản thực hiện toàn bộ các 10 nghĩa vụ phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ theo hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ. - Các đơn vị chấp nhận thẻ là các tổ chức, cá nhân chấp nhận thanh toán hàng hoá và dịch vụ bằng thẻ. Các đơn vị chấp nhận thẻ thƣờng là các nhà hàng, siêu thị, trung tâm thƣơng mại, cửa hàng… nơi đặt các thiết bị chấp nhận thẻ (nhƣ máy POS, EDC). Đặc biệt, gần đây các ngân hàng và đối tác công nghệ đã cung cấp ra thị trƣờng giải pháp điểm chấp nhận thanh toán thẻ trên thiết bị di động (mPOS), hỗ trợ các đơn vị chấp nhận thẻ có thể chấp nhận thanh toán qua thiết bị điện thoại di động cả thẻ quốc tế và thẻ nội địa của nhiều ngân hàng.
Giải pháp mPOS đƣợc thiết kế phù hợp với nhiều loại hình kinh doanh và dịch vụ, từ các công ty, nhà hàng, tổ chức cung ứng hàng hóa, dịch vụ có giao hàng và thu tiền tại nhà, đảm bảo an toàn và hiệu quả. - Máy ATM (automated teller machine) là máy giao dịch tự động mà chủ thẻ có thể sử dụng để thực hiện các giao dịch nhƣ rút tiền mặt, vấn tin tài khoản, đổi PIN, tra cứu thông tin thẻ, vấn tin tài khoản, chuyển khoản…; Máy POS (point of sale), mPOS (mobile point of sale) và các loại thiết bị chấp nhận thẻ khác là các loại thiết bị đọc thẻ, thiết bị đầu cuối đƣợc cài đặt và sử dụng tại các đơn vị chấp nhận thẻ mà chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ… Dịch vụ thẻ là một dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng những tiện ích, phƣơng thức thanh toán không dùng tiền mặt khi sử dụng sản phẩm thẻ dựa trên sự phát triển công nghệ thông tin, khoa học và kỹ thuật. Trong thập kỷ 80, một số NHTM lớn thƣờng đầu tƣ riêng cho mình một hệ thống ATM, các khách hàng của NHTM nào chỉ đƣợc sử dụng thẻ tại các máy ATM của ngân hàng đó. Sau này, các NHTM đều nhận thấy việc sử dụng chung hệ thống thiết bị là tiết kiệm, đồng thời cũng không ảnh hƣởng lớn đến cạnh tranh nên đã cùng nhau góp vốn xây dựng các trung tâm xử lý thẻ hoặc sử dụng kỹ thuật để cùng khai thác mạng ATM của các NHTM kết nối với nhau.
Trung tâm xử lý thẻ có trách nhiệm quản lý hệ thống và xác định các giao dịch của mỗi ngân hàng làm căn cứ thanh toán bù trừ về vốn cũng nhƣ phân bổ chi phí. Trên cơ sở liên kết giữa các 11 NHTM trong việc phát triển mạng lƣới ATM, POS, việc giao dịch và thanh toán của các khách hàng và ngân hàng đƣợc mở rộng một cách nhanh chóng. Các dịch vụ thẻ bao gồm: - Dịch vụ nộp tiền, rút tiền hoặc ứng tiền mặt tại ATM, POS… - Dịch vụ chuyển khoản - Dịch vụ thanh toán hàng hóa qua EDC, POS tại đơn vị chấp nhận thẻ - Dịch vụ thanh toán trực tuyến - Dịch vụ thẻ khác Sức mạnh của dịch vụ thanh toán thẻ nằm ở tính linh hoạt, thiết thực và việc các ngân hàng thiết kế dịch vụ của mình đáp ứng tối đa nhu cầu tài chính của ngƣời dùng cũng nhƣ tính linh hoạt, đa dạng trong hoạt động thanh toán. Các dịch vụ thẻ đang ngày đƣợc nhiều ngƣời sử dụng, ngoài các chức năng cơ bản nhƣ rút tiền tại các cây ATM, hay thanh toán các sản phẩm, dịch vụ tại các điểm POS, còn hƣớng tới các sản phẩm chuyên biệt nhƣ cho vay mua xe trả góp, vay tiêu dùng cá nhân trả góp, vay mua hàng gia dụng trả góp.
Xu hƣớng sử dụng các dịch vụ thẻ đã đƣợc các ngân hàng nắm bắt và đón đầu khá mạnh mẽ trong những năm qua, bằng chứng là các liên minh thẻ đã thu hút hầu hết các NHTM gia nhập. Khái niệm phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại Phát triển dịch vụ thẻ là quá trình ngân hàng thƣơng mại mở rộng quy mô cung ứng, đa dạng hóa loại hình và nâng cao chất lƣợng dịch vụ thẻ nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng từ đó thu hút ngày càng nhiều khách hàng sử dụng và thông qua đó ngân hàng thƣơng mại có thể gia tăng thu nhập từ dịch vụ này. Một số lý thuyết về dịch vụ thẻ và phát triển dịch vụ thẻ của ngân hàng thƣơng mại 1. Đặc điểm, phân loại dịch vụ thẻ 1.
Đặc điểm của dịch vụ thẻ - Cùng với các phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác nhƣ: séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, Internet banking, E-banking, Home banking, Phone banking…, thẻ ngân hàng góp phần làm giảm tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt trong 12 các giao dịch kinh tế. Cùng với sự ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, thanh toán bằng thẻ hiện đang là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tiện dụng, hiện đại và tiên tiến nhất trên thế giới gắn liền với sự phát triển của ngành ngân hàng nói chung và hoạt động thanh toán nói riêng. Ƣu điểm của thẻ thanh toán là nhanh chóng, thuận tiện, quá trình thanh toán diễn ra dễ dàng. Khách hàng có thể sử dụng đƣợc rộng rãi tại mọi nơi chấp nhận thanh toán thẻ hoặc có máy ATM mà không nhất thiết phải đến ngân hàng.
Về phía ngân hàng, phƣơng thức thanh toán này giúp ngân hàng giảm thiểu nhân sự phục vụ, giảm bớt rủi ro do khách hàng phải chịu trách nhiệm cao về tính bảo mật thẻ của mình.