CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN. Cấu Trúc Vốn: 1. Khái niệm về cấu trúc vốn: Cấu trúc vốn là quan hệ về tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu, bao gồm vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường trong tổng số nguồn vốn của công ty được dùng để tài trợ quyết định đầu tư của một doanh nghiệp. Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh.
Các nhân tố cấu thành cấu trúc vốn: Nguồn vốn của doanh nghiệp cơ bản được hình thành từ 2 nguồn lớn: nguồn vốn vay nợ và nguồn vốn chủ sở hữu. Nguồn vốn vay: Nguồn vốn vay là nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài DN và DN phải thanh toán các khoản vay theo thời hạn cam kết và đồng thời phải trả tiền lãi vay theo lãi suất thỏa thuận. Nguồn vốn vay mang một ý nghĩa rất quan trọng đối với việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của một DN. Nguồn vốn vay bao gồm vay ngắn hạn (thời hạn dưới một năm) và vay dài hạn ( thời hạn trên một năm).
Trong cấu trúc vốn ta chỉ xét đến nguồn vốn vay dài hạn vì những quyết định đầu tư thường liên quan đến những tài sản hoặc khoản nợ dài hạn. những quyết định đầu tư không thể thay đổi một cách dễ dàng và chúng có khả năng làm cho DN phải theo đuổi một định hướng hoạt động trong nhiều năm. Trong đó vay dài hạn là những khoản vay DN huy động có thời hạn trên một năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 30-40 năm. Nguồn vốn được dùng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như bổ sung vốn xây dựng nhà cửa hay mua sắm TSCĐ… Nguồn này có thể vay từ các định chế tài chính hay phát hành trái phiếu trên thị trường vốn.
1 c Nguyễn Ngọc Sơn Tuyền - 1311190817 GVHD: TS. Phan Thị Hằng Nga. Nguồn vốn chủ sở hữu: VCSH là số vốn thuộc quyền sở hửu cùa chủ DN vì vậy DN có quyền sử dụng lâu dài vào các hoạt động của mình. VCSH thường bao gồm vốn do chủ sở hữu DN bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh.
Đặc điểm của VCSH là nguồn vốn có tính chất dài hạn và thường không phải trả lợi tức cố định cho chủ sở hữu vốn. Các tỷ số đo lường cấu trúc vốn: Các chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu về cấu trúc vốn, đó là hệ số nợ, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu, hệ số tự tài trợ.1 Hệ số nợ tổng quát: Hệ số nợ tổng quát = Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản. Thông thường, nếu hệ số nợ lớn hơn 50%, có nghĩa là tài sản của DN được tài trợ bởi các khoản nợ nhiều hơn, còn ngược lại nếu hệ số nợ nhỏ hơn 50% thì tài sản của DN được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ thì DN càng ít gặp khó khăn tài chính hơn vì DN ít phụ thuộc vào nợ vay để tài trợ cho hoạt động kinh doanh.
Hệ số nợ phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và lĩnh vực mà DN hoạt động. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu cho biết tỷ lệ giữa hai nguồn vốn cơ bản (vốn nợ và vốn chủ sở hữu) mà DN sử dụng để tài trợ cho hoạt động của mình. Hai nguồn vốn này có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá cấu trúc tài chính của DN. Hệ số này được tính như sau: Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E) = Tổng nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu.
Hệ số này càng lớn thì nguồn vốn vay (nợ phải trả) càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của DN. Thông thường, hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là nợ vay chiếm tỷ trọng lớn hơn vốn chủ sở hữu, và ngược lại. Hệ số tự tài trợ: 2 c Nguyễn Ngọc Sơn Tuyền - 1311190817 GVHD: TS. Phan Thị Hằng Nga.
Hệ số tự tài trợ phản ánh tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của DN. Hệ số này có giá trị càng lớn nghĩa là mức độ tự chủ tài chính bằng vốn chủ sở hữu của DN càng cao do đó rủi ro của DN càng thấp. Hệ số này được tính theo công thức sau: Hệ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản. Hệ số E/C có giá trị càng lớn thì mức độ tự chủ về mặt tài chính và khả năng bù đắp tổn thất bằng vốn chủ sở hữu càng cao, do đó rủi ro kinh doanh của DN càng thấp.
Nếu hệ số này lớn hơn 50% tức là nguồn vốn của DN phần lớn được tài trợ từ nguồn vốn thực góp của các cổ đông. Các chỉ tiêu đo lường chi tiêu tài chính của DN sẽ có các giá trị khác nhau khi giá trị nguồn vốn của DN được đo lường căn cứ vào giá trị sổ sách (giá trị kế toán) hoặc giá trị thị trường. Titman và Wessels (1988) cho rằng, giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường của nguồn vốn có sự khác biệt đáng kể, vì vậy việc lựa chọn giá trị sổ sách hay giá trị thị trường của nguồn vốn có ảnh hưởng nhất định đến các chỉ tiêu đo lường chi tiêu tài chính. Tuy nhiên, do việc xác định giá trị thị trường của nguồn vốn nợ tương đối khó khăn nên hầu hết các nghiên cứu về chi tiêu tài chính DN chỉ đo lường nguồn vốn chủ sở hữu của DN theo giá trị thị trường, còn nguồn vốn nợ được xác định căn cứ vào giá trị sổ sách kế toán.
Ý nghĩa nghiên cứu cấu trúc vốn của doanh nghiệp: Cấu trúc vốn xuất phát từ cấu trúc của Bảng cân đối kế toán. Trong Bảng cân đối kế toán, cấu trúc vốn chỉ ra được phần nào của tổng tài sản doanh nghiệp hình thành từ vốn góp của chủ sở hữu và lợi nhuận của chủ sở hữu được giữ lại đầu tư cho hoạt động doanh nghiệp và phần nào hình thành từ các nguồn có tính chất công nợ. Cấu trúc vốn có quan hệ gần gũi với một khái niệm khác của tài chính là lãi suất chiết khấu. Do việc tính toán tài chính có quan điểm coi mức rủi ro giữa vốn sở hữu và vốn vay khác nhau, tỉ lệ nguồn hình thành trong cấu trúc vốn sẽ làm thay đổi nhận thức của giới đầu tư về mức rủi ro của một doanh nghiệp.
Chẳng hạn một doanh nghiệp có quá ít vốn chủ sở hữu và quá nhiều vốn vay thì rủi ro thường sẽ cao hơn nhiều do giới kinh doanh đánh giá về sức ép chi trả các trách nhiệm tài chính có thể có tác động tiêu cực lên các quyết định quản lý của Ban giám đốc và tình trạng tài chính công ty. 3 c Nguyễn Ngọc Sơn Tuyền - 1311190817 GVHD: TS. Phan Thị Hằng Nga. Chi phí sử dụng vốn: Chi phí sử dụng vốn là cái giá mà DN phải trả cho việc sử dụng nguồn tài trợ, đó là nợ vay cổ phần ưu đãi, thu nhập giữ lại, cổ phần thường và DN sử dụng những nguồn tài trợ này để tài trợ cho các dự án đầu tư mới.
Thuật ngữ chi phí sử dụng vốn thường được sử dụng thay thế với tỷ suất sinh lợi đòi hỏi của DN, tỷ suất rào cản cho các đầu tư mới, tỷ suất chiết khấu để đánh giá đầu tư mới và cơ hội phí của việc sử dụng vốn. Đây là một khái niệm vô cùng quan trọng khi đề cập đến chiến lược tài trợ của một DN, là cầu nối quan trọng giữa các quyết định đầu tư dài hạn với việc gia tăng giá trị tài sản của các chủ sỡ hữu theo yêu cầu của các nhà đầu tư trên thị trường. Chi phí sử dụng nợ: Công ty có thể huy động nợ dưới hình thức vay của các tổ chức tín dụng tài chính trung gian hay dưới hình thức phát hành trái phiếu. Chi phí sử dụng nợ được đo lường hoặc là trước hoặc sau thuế, tuy nhiên, bởi vì chi phí lãi vay được khấu trừ trước thuế nên chi phí sử dụng nợ sau thuế thường được quan tâm hơn.
Đây là một phần của cấu trúc tài chính doanh nghiệp, cấu trúc tài chính còn bao gồm cả chi phí sử dụng vốn cổ phần. Một công ty sẽ sử dụng nhiều loại trái phiếu khác nhau, các khoản vay và các hình thức nợ khác, vì vậy, chi phí sử dụng nợ là một sự đo lường hữu ích cho biết chi phí trung bình mà công ty phải trả cho mỗi đồng tiền nợ tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp là bao nhiêu. Chi phí sử dụng nợ cũng giúp nhà đầu tư có được một hình dung ban đầu về rủi ro tài chính của công ty so với các công ty khác, bởi vì một công ty có mức rủi ro cao hơn thường có chi phí sử dụng nợ cao hơn. Chi phí sử dụng nợ sau thuế (rD*) được xác định bằng chi phí nợ trước thuế trừ đi khoản tiết kiệm từ lãi vay.
Ta có công thức sau: rD* = rD.(1 - t) Trong đó: rD* : chi phí sử dụng nợ sau thuế. 4 c Nguyễn Ngọc Sơn Tuyền - 1311190817 GVHD: TS. Phan Thị Hằng Nga. t là thuế suất thuế TNDN.
Chi phí sử dụng nợ luôn phải tính sau thuế và chi phí sử dụng nợ sau thuế mới thực sự là chi phí mà DN phải bỏ ra để sử dụng nợ do lãi vay được phép khấu trừ vào lợi tức chịu thuế làm cho nhà đầu tư khi sử dụng nợ nhận được khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế. Chính điều này làm cho chi phí sử dụng nợ luôn rẻ hơn chi phí sử dụng vốn cổ phần và cấu trúc có sử dụng nợ dễ đạt tối ưu hơn cấu trúc vốn 100% vốn cổ phần. Chi phí sử dụng vốn cổ phần ưu đãi: Chi phí sử dụng vốn cổ phần ưu đãi chính là chi phí ở hiện tại của việc sử dụng cổ phần ưu đãi để gia tăng nguồn vốn. Cổ phần ưu đãi được xem như là một loại nguồn vốn chủ sở hữu đặc biệt trong một DN.
Cổ tức của cổ phần ưu đãi được trả theo một mức cố định.