MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, các quốc gia chọn cho mình một mô hình tăng trƣởng riêng biệt. Trong những năm vừa qua, mô hình tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam là dựa vào xuất khẩu, điều đó đƣợc thể hiện ở sự tăng trƣởng của xuất khẩu và mức đóng góp vào GDP luôn ở mức cao. Tuy nhiên, kể từ năm 2008 đến nay, khủng hoảng kinh tế đã khiến cho kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giảm đáng kể.
Đơn cử nhƣ tốc độ tăng trƣởng xuất khẩu năm 2008 đạt 29% thì sang đến năm 2009 tốc độ tăng trƣởng xuất khẩu đã sụt giảm mạnh thậm chí xuống mức âm -8,92%. Do vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là làm thế nào để có thể thúc đẩy xuất khẩu tăng mạnh trở lại. Thêm vào đó xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là các mặt hàng thô, chƣa qua chế biến có giá trị gia tăng rất thấp. Vì vậy, việc xem xét tập trung đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng nào, nhóm hàng nào là hết sức cần thiết.
Đặc biệt là khi các thị trƣờng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam đang có xu hƣớng bão hòa và ngày càng khó tính. Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của WTO, AFTA và cũng đã ký kết một số hiệp định thƣơng mại song phƣơng. Điều này làm cho vị thế của Việt Nam đƣợc cải thiện trong trao đổi thƣơng mại cũng nhƣ cơ cấu xuất nhập khẩu dần thay đổi theo hƣớng tích cực hơn.Tuy nhiên, những kết quả này liệu có đạt nhƣ kỳ vọng? Việc mở rộng quan hệ quốc tế sẽ ảnh hƣởng thế nào tới hoạt động xuất khẩu các mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng mà chúng ta không có lợi thế cạnh tranh? Xuất phát từ thực tế này, tôi quyết định chọn đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng tới kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng của Việt Nam theo mô hình Gravity” Luan van 2 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cho tới thời điểm này đãcó rất nhiều nghiên cứu về hoạt động xuất nhập khẩu và các yếu tố ảnh hƣởng đến nó tuy nhiên những nghiên cứu này chủ yếu đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp định tính.
Cũng có rất nhiều nghiên cứu định lƣợng trong đó có những sử dụng mô hình Gravity để nghiên cứu vấn đề này song những nghiên cứu đó mới chỉ tập trung đánh giá tác động của các yếu tố tới tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, luồng thƣơng mại hai chiều. Ví dụ, nghiên cứu của Blomqvist (2004) về hoạt động thƣơng mại của Singapore; Montanari (2005) về hoạt động thƣơng mại của Brunei với EU; Thornton và Goglio (2002) về tác động của quy mô nền kinh tế, khoảng cách địa lý, và ngôn ngữ trong thƣơng mại song phƣơng trong nội bộ ASEAN;Chan-Hyun Sohn (2005) – phân tích những dòng chảy thƣơng mại ở Hàn Quốc, Ranajoy và Tathagata (2006) – giải thích về xu hƣớng thƣơng mại ở Ấn Độ, Alberto (2009) cũng sử dụng mô hình này để xem xét rằng liệu mô hình có thể giải thích đƣợc hoạt động xuất khẩu của các nƣớc trong khu vực Châu Phi hay không,…Càng ở những nghiên cứu về sau, mô hình càng dần đƣợc cải tiến nhiều hơn với nhiều biến độc lập mới nhƣ: Dân số, tỷ giá hối đoái, GDP bình quân đầu ngƣời, FDI,… Và đặc biệt hơn là sự xuất hiện của các biến giả nhƣ: History (lịch sử), Language (ngôn ngữ), WTO, AFTA,…trong những bài nghiên cứu của Chan-Hyun Sohn (2005), Nguyễn Trung Kiên (2005), Alberto (2009),…Nhƣ vậy, hầu hết những nghiên cứu trên chƣa chỉ ra đƣợc những tác động cụ thể đến từng nhóm hàng. Nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên (2005) sử dụng mô hình lực hấp dẫn để phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến thƣơng mại của khối AFTA, với biến phụ thuộc là kim ngạch xuất khẩu của các nƣớc trong khối ASEAN từ năm 1989 đến 2002, các biến độc lập là GDP, dân số, khoảng cách, tỷ giá hối đoái, và biến giả là ngôn ngữ và FTA. Trong kết luận của mình tác giả cho Luan van 3 rằng các biến GDP, dân số, ngôn ngữ cùng với các nhân tố khác có thể giải thích luồng xuất khẩu trong phạm vi quan sát và luồng xuất khẩu giữa hai nƣớc tăng với mức tăng cao hơn mức tăng tƣơng ứng của GDP, hay nhân tố khoảng cách ngày càng gia tăng mức độ của nó đối với luồng xuất khẩu.
Đặc biệt, trong nghiên cứu này tác giả đã có những phân tích rất cụ thể và chi tiết đối với biến giả FTA trong quan hệ thƣơng mại. Vậy, liệu các biến giả FTA sẽ ảnh hƣởng thế nào tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam? Trong nội dung đề tài tác giả sẽ cố gắng phân tích cụ thể hơn vấn đề này. Đối với trƣờng hợp riêng của Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu thực nghiệm, có thể kể đến các nghiên cứu nhƣ của Đỗ Thái Trí (2006) đã áp dụng mô hình này để giải thích dòng chảy thƣơng mại song phƣơng giữa Việt Nam và 23 nƣớc Châu Âu từ năm 1993-2004. Tác giả đã sử dụng biến phụ thuộc là giá trị thƣơng mại, tức là tổng xuất khẩu và nhập khẩu giữa Việt Nam và các nƣớc trong khu vực Châu Âu, các biến độc lập đó là GDP, dân số, tỷ giá hối đoái thực tế, khoảng cách và biến giả lịch sử.
Kết quả hồi quy cho thấy rằng, các biến ảnh hƣởng đến sự giao thƣơng giữa Việt Nam với các nƣớc Châu Âu đó là qui mô nền kinh tế (GDP) và qui mô thị trƣờng (dân số) với ảnh hƣởng tích cực, và tỷ giá hối đoái thực tế ảnh hƣởng tiêu cực. Biến khoảng cách và lịch sử hầu nhƣ không có ảnh hƣởng đáng kể gì đến dòng chảy thƣơng mại giữa Việt Nam và 23 nƣớc Châu Âu. Ngoài ra, tác giả đã ứng dụng mô hình này để đánh giá tiềm năng thƣơng mại giữa Việt Nam và 23 nƣớc Châu Âu. Qua tính toán, ông nhận thấy rằng Việt Nam vẫn chƣa khai thác triệt để tiềm năng thƣơng mại đối với một số nƣớc nhƣu Áo, Phần Lan, Luxembourg.
Nhƣ vậy, đây cũng vẫn là một nghiên cứu phân tích tác động tới dòng chảy thƣơng mại song phƣơng. Nghiên cứu của Nguyễn Bắc Xuân (2010) sử dụng mô hình lực hấp dẫn để phân tích hoạt động xuất khẩu ở Việt Nam. Với biến phụ thuộc là giá trị Luan van 4 xuất khẩu từ Việt Nam sang các nƣớc khác từ năm 1986 đến năm 2006, các biến độc lập đó là tổng thu nhập (đƣợc tính toán qua GDP năm đó), khoảng cách, tỷ giá hối đoái thực tế trung bình và biến giả là AFTA. Sau khi chạy mô hình hồi quy, ông nhận xét rằng các biến thu nhập, tỷ giá hối đoái và AFTA có ảnh hƣởng tích cực.
Tức là xuất khẩu của Việt Nam sang một nƣớc sẽ tăng nếu thu nhập của Việt Nam và nƣớc đó tăng trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Tƣơng tự đối với tỷ giá và biến giả AFTA. Ngƣợc lại, biến khoảng cách lại có ý nghĩa tiêu cực, Việt Nam sẽ xuất khẩu sang một nƣớc nhiều hơn nếu nƣớc ấy gần về mặt địa lý với Việt Nam hơn. Nghiên cứu này khá tƣơng đồng với những gì tác giả muốn triển khai.
Tuy nhiên, trong mô hình thực nghiệm có thể tác giả sẽ đƣa thêm biến Dân số, và biến thu nhập sẽ đƣợc xem xét riêng biệt chứ không phải là tổng thu nhập của cả hai nƣớc. Bên cạnh đó, nếu xét về từng nhóm hàng thì có nghiên cứu của nhóm sinh viên Nguyễn Thị Hà Trang và Nguyễn Thị Thanh Tâm (2010). Tuy nhiên, nghiên cứu này đƣợc thực hiện trong một thời gian rất ngắn (2004- 2008), các biến FTA không đƣợc hai tác giả xem xét một các riêng rẽ nên khó có thể đánh giá đầy đủ về các tác động. Tóm lại có thể thấy rằng, hiện nay còn rất ít nghiên cứu về các nhóm hàng, cần thiết phải có thêm nhiều công trình nghiên cứu về mảng đề tài này.Hi vọng đề tài này sẽ đƣa ra đƣợc những tác động cụ thể hơn của các nhân tố tới từng nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là nhằm phân tíchcác ảnh hƣởng của các yếu tố nhƣ GDP, dân số, khoảng cách và các FTA tới kim ngạch xuất khẩu từng nhóm của Việt Nam đƣợc phân loại theo SITC. Từ đó đƣa ra những giải pháp để phát huy những tác động tích cực cũng nhƣ giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Để đạt đƣợc Luan van 5 những mục tiêu này, đề tài cần phải giải quyết đƣợc nhƣng nhiệm vụ sau: Làm rõ đƣợc cở sở lý luận về mô hình lực hấp dẫn (Gravity model) trong phân tích hoạt động thƣơng mại. Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.
Tìm ra những nhân tố chủ yếu và lƣợng hóa đƣợc các tác động tới hoạt động xuất khẩu các nhóm hàng của Việt Nam với các đối tác chính. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là mô hình lực hấp dẫn trong thƣơng mại (Gravity model), hoạt động xuất khẩu của Việt Namcũng nhƣ của từng nhóm hàng theo SITC và các yếu tố tác động tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam và các đối tác trên thế giới. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu của Việt Nam với các nƣớc trên thế giới trong khoảng thời gian từ 2000-2013. Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu 5.
Cách tiếp cận Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm trở lại việc sử dụng mô hình Gravity để ƣớc lƣợng các nhân tố ảnh hƣởng đến luồng thƣơng mại trong bối cảnh hình thành các liên kết thƣơng mại khu vực. Chắc chắn là mô hình Gravity có thể giải thích thƣơng mại giữa các nƣớc thành viên thông qua mô phỏng kinh tế về lực hút hấp dẫn giữa hai chủ thể kinh tế, trong đó khối lƣợng là GDP tƣơng ứng của hai nƣớc và khoảng cách chính là khoảng cách địa lý giữa hai nƣớc. Điều đáng quan tâm là mô hình Gravity bao gồm cả các biến giải thích thay đổi theo thời gian nhƣ GDP, dân số và các biến giải thích không thay đổi theo thời gian nhƣ khoảng cách, sự lân cận. Kết quả là ƣớc lƣợng Pooled OLS tỏ ra không phù hợp và thiếu chính xác trong việc ƣớc lƣợng các biến trên.
Trong khi đó hai mô hình: Tác động cố định (Fixed effects model) và mô hình Luan van 6 tác động ngẫu nhiên (Random effects model) đƣợc cho là phù hợp hơn với số liệu dạng này.