Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Ngân hàng thương mại và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong các ngành công nghiệp ra đời sớm nhất vào thế kỷ 17, hoạt động độc lập và thuộc sở hữu tư nhân và đặc biệt đều phát hành loại tiền riêng cho ngân hàng mình và thực hiện các nghiệp vụ giống nhau là cho vay, thanh toán, vvv….
Đến đầu thế kỷ 19 nhà nước bắt đầu can thiệp vào hoạt động ngân hàng. Tại các nước khác nhau thì định nghĩa về NHTM cũng khác nhau, tuy nhiên thường được dựa vào tính chất và mục đích hoạt động để đưa ra các định nghĩa về ngân hàng. Tại Pháp theo luật ngân hàng năm 1941 thì NHTM là một doanh nghiệp hoặc tổ chức nhận tiền từ công chúng, dưới hình thức tiền gửi và sử dụng tiền đó cho các hoạt động tài chính, cấp vốn và tín dụng của chính mình. Tại Ấn Độ, theo Đạo luật Ngân hàng năm 1950, được bổ sung năm 1959, quy định: Các khoản tiền gửi được ngân hàng nhận để cho vay, tài trợ và đầu tư.
Đạo luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930, nó bao gồm nhận tiền gửi, kinh doanh vàng và bạc, bất động sản, cơ sở tín dụng, hối phiếu, chuyển tiền và bảo hiểm. Ở Việt Nam, ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập ngày 6 tháng 5 năm 1951, với các nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ, quản lý Kho bạc nhà nước, sử dụng các chính sách tín dụng để phát triển sản xuất, phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch. Nghị định 59/2009/NĐ – CP ngày 16 tháng 7 năm 2009 định nghĩa NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng (luật số 02/1997/QH 10): “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng trực 7 tiếp giao dịch với các Công ty, Xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể và các cá nhân bằng việc nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm… cho vay và các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên”.
Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tóm lại NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, làm công tác tín dụng và các nghiệp vụ huy động vốn, cung cấp phương tiện thanh toán, thực hiện cung cấp các nghiệp vụ chiết khấu, dịch vụ tài chính khác với mục tiêu tồn tại, lợi nhuận và phát triển HĐKD của mình cả trong và ngoài nước.2 Khái niệm về khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Theo Rose (1999) định nghĩa KNSL của ngân hàng là phần thu nhập ròng sau thuế hoặc lợi nhuận ròng của ngân hàng. Cân bằng tài chính được duy trì bằng hiệu quả tiền tệ. Và hiệu quả tiền tệ được đo lường bằng KNSL.
Việc đánh giá KNSL phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng số 7/2010 (2017), NHTM là ngân hàng được phép thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng vì lợi nhuận. Theo ECB (2011) thì khả năng sinh lời chính là yếu tố quan trọng, là tấm đệm để ngân hàng đối phó với các rủi ro bất thường hay các khoản lỗ trong các trường hợp cấp bách. Chính khả năng sinh lời giúp ngân hàng bổ sung vào nguồn vốn tự có một số vốn đáng kể với chi phí sử dụng vốn là thấp.
Với khả năng sinh lời của ngân hàng cao sẽ giúp ngân hàng có nguồn lực chủ động trong việc đầu tư trang thiết bị hiện đại cũng như cải thiện cơ sở vật chất, tăng các dịch vụ phục vụ cho khách hàng cũng như đem lại lợi nhuận từ những dịch vụ này. Cho nên, chính khả năng sinh lời cao sẽ giúp các nhà đầu tư an tâm đầu tư, vì nếu có xảy ra rủi ro thì ngân hàng vẫn có thể bù đắp các khoản tổn thất này. Theo Aburime (2008) thì KNSL của NHTM chính là thước đo phản ảnh HQHĐ của các ngân hàng trong kinh doanh. Ở góc độ vĩ mô thì việc các ngân hàng có lợi nhuận hoạt động cao sẽ đồng thời giúp các ngân hàng vượt qua các bất ổn và rủi ro trong quá trình hoạt động, chính điều này đã tạo ra sự ổn định của toàn nền 8 kinh tế.
Ở góc độ vi mô thì khi các ngân hàng có lợi nhuận tốt sẽ là tạo ra một nguồn vốn tự có từ lợi nhuận giữ lại cũng là nguồn vốn an toàn với chi phí rẻ nhất. Theo (Rose, 1999) đưa ra khái niệm về KNSL của ngân hàng chính là trong quá trình hoạt động, KNSL là sự chênh lệch giữa lãi suất tiền vay và lãi suất tiền gửi, và các hoạt động đầu tư khác trừ đi các khoản chi phí phát sinh Từ những khái niệm trên, ta có thể gọi lợi nhuận là thước đo cho sự thành công trong hoạt động của tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế nói chung và ngân hàng nói riêng.3 Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời 2.1 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) Do không bị ảnh hưởng bởi đòn bẩy tài chính nên ROA được coi là thước đo định lượng tốt nhất đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh tế nói chung và ngân hàng nói riêng (Rose, 1999). Thước đo này cho biết mỗi đô la tài sản được sử dụng trong hoạt động kinh doanh tạo ra bao nhiêu lợi nhuận, vì vậy nó có thể được sử dụng để so sánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Theo Rivard & Thomas (1997), lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản là chỉ tiêu tốt nhất đánh giá KNSL của ngân hàng.
Với quy mô tài sản như nhau, ngân hàng nào có tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) cao thể hiện chính sách đầu tư và kinh doanh hiệu quả (Nguyễn Thành Đạt & Nguyễn Thị Mỹ Duyên (2021), Batten & Vo (2019), Farkasdi và c. Theo nghiên cứu của Davydenko (2010), ROA cũng có một số hạn chế, bao gồm việc loại bỏ các yếu tố ngoại bảng đóng góp vào lợi nhuận. Lợi nhuận sau thuế (2.1) ROA = Tài sản bình quân 2.2 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROE) ROA của một ngân hàng cho biết sức khỏe tổng thể của nó, trong khi ROE của nó cho biết giá trị của nó đối với các cổ đông. Nói cách khác, ROE đo lường 9 mức độ hiệu quả và hiệu quả của một ngân hàng sử dụng vốn và chất lượng quản lý vốn của ngân hàng.
Hệ số ROE càng cao thì cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư. Trong nghiên cứu của Gul và c. (2011b), đã chỉ ra cách các ngân hàng tạo ra lợi nhuận từ vốn đầu tư của họ. Theo Nguyễn Thị Cành (2009), ROE là thước đo hiệu quả hoạt động của ngân hàng dựa trên tỷ suất sinh lợi tài chính.
Ở ngân hàng có ROE cao thì vốn được sử dụng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, đầu tư vào ngân hàng có ROE thấp sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của nhà đầu tư. Một ngân hàng có ROE cao cũng có thể có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao và dễ dàng vi phạm luật tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu của ngân hàng. Lợi nhuận sau thuế (2.2) ROE = Vốn chủ sở hữu bình quân 2.3 Các chỉ tiêu đo lường khác Trên tài sản sinh lãi bình quân, Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được tính bằng cách lấy tổng chi phí lãi (thu nhập lãi ròng) trừ đi tổng thu nhập từ lãi.
Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng, chứng khoán đầu tư, cho vay khách hàng và các tổ chức tín dụng khác xác định tổng tài sản có KNSL bình quân. Bằng cách kiểm soát các tài sản sinh lời và xác định các nguồn vốn ít tốn kém nhất, NIM đo lường sự cân bằng giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi vay, do đó NIM càng cao thì KNSL của ngân hàng càng cao. Tỷ lệ này cho phép ngân hàng đánh giá nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất và giám sát các tài sản sinh lời. Các nghiên cứu của Gul và c.
(2013) sử dụng NIM như một biến phụ thuộc để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến KNSL của ngân hàng. Mặc dù vậy, dòng tiền không phản ánh KNSL của các ngân hàng, vì nó không bao gồm thu nhập ngoài lãi hoặc các chi phí hoạt động khác (Ben Naceur & Goaied, 2008). Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên – NNIM: Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM) đo lường thu nhập ngoài lãi trừ đi chi phí ngoài lãi. Thu nhập ngoài lãi chủ yếu đến từ các chi phí liên quan đến sản phẩm và dịch vụ, trong khi chi phí ngoài 10 lãi bao gồm tiền lương, chi phí sửa chữa và chi phí hoạt động.
Nói cách khác, tỷ lệ NNIM càng cao thì ngân hàng càng có lãi. Tỷ lệ thu nhập trên vốn sử dụng (ROCE): Dựa trên lượng vốn sử dụng, tỷ suất lợi nhuận trên vốn sử dụng (ROCE) cho biết khả năng thu được lợi nhuận của ngân hàng. Chênh lệch giữa tổng tài sản và nợ ngắn hạn được là vốn sử dụng. Nói chung, ROCE càng cao thì ngân hàng càng có lợi nhuận cao (Gul và c.
ROA và ROE là hai chỉ số chính được các nghiên cứu trong và ngoài nước sử dụng để đánh giá KNSL của các ngân hàng. Do dễ tính toán, có ý nghĩa toàn diện và phản ánh các khía cạnh khác nhau trong việc đánh giá hoạt động và KNSL của một ngân hàng, nên trong nghiên cứu này, hai chỉ tiêu trên được sử dụng để đo lường KNSL của các ngân hàng Việt Nam. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 2.1 Các yếu tố nội tại Quy mô ngân hàng (SIZE): Quy mô ngân hàng được coi là yếu tố nội tại ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thông qua tổng tài sản hoặc tổng nguồn vốn. Thật vậy, thông qua quy mô kinh tế, các ngân hàng có thể tăng lợi nhuận của mình.