phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích Báo cáo tài chính của Công ty cổ phần ACC-244. Chƣơng 3: Giải pháp để cải thiện nâng cao tình hình tài chính của Công ty cổ phần ACC-244. 7 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số vấn đề lý luận cơ bản về Báo cáo tài chính 1. Một số khái niệm liên quan Báo cáo tài chính: Là những báo cáo tổng hợp về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và dòng tiền trong kỳ của doanh nghiệp. Nói cách khác, Báo cáo tài chính là phƣơng tiện trình bày khả năng sinh lợi và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những ngƣời quan tâm. Thông qua Báo cáo tài chính, những ngƣời dử dụng thông tin có thể đánh giá, phân tích và chẩn đoán đƣợc thực trạng và an ninh tài chính, nắm bắt đƣợc kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán, xác định giá trị doanh nghiệp, định rõ tiềm năng cũng nhƣ dự báo đƣợc nhu cầu tài chính và những rủi ro trong tƣơng lai mà doanh nghiệp có thể phải đƣơng đầu [7,tr.
Báo cáo tài chính là một bức tranh tổng hợp phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh và các quan hệ tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm hay một thời kỳ [11,tr. Từ những khái niệm trên, tác giả nhận định Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn và công nợ cũng nhƣ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Nói cách khác, báo cáo tài chính là phƣơng diện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những ngƣời quan tâm (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tƣ, nhà cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng…). Phân tích báo cáo tài chính: 8 Phân tích báo cáo tài chính là một kỹ năng cần thiết trong nhiều công tác khác nhau, bao gồm quản lý đầu tƣ, tài chính doanh nghiệp, cho vay thƣơng mại và mở rộng tín dụng.
Đối với những cá nhân liên quan đến những hoạt động trên hoặc là những đối tƣợng cần phân tích dữ liệu tài chính phục vụ cho mục đích ra quyết định đầu tƣ của mình [10, tr. Phân tích báo cáo tài chính thực chất là phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thống báo cáo nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho mọi đối tƣợng có nhu cầu theo những mục tiêu khác nhau [11,tr. Từ những nhận định trên, tác giả định nghĩa phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho ngƣời sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ những rủi ro về tài chính trong tƣơng lai của doanh nghiệp.
Phân tích báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin hữu ích không chỉ cho quản trị doanh nghiệp mà còn cung cấp thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho các đối tƣợng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp. Bởi vậy, phân tích báo cáo tài chính không chỉ phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, mà còn cung cấp những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã đạt đƣợc trong một khoảng thời gian. Ý nghĩa phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính là một hệ thống các phƣơng pháp nhằm đánh giá tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định. Trên cơ sở đó, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đƣa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh.
9 Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trƣờng, có nhiều đối tƣợng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp nhƣ: các nhà đầu tƣ, các nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng. Mỗi đối tƣợng này đều quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dƣới các góc độ khác nhau. Các đối tƣợng này có thể đƣợc chia làm hai nhóm: nhóm có quyền lơi trực tiếp và nhóm có quyền lợi gián tiếp. Nhóm có quyền lợi trực tiếp: bao gồm các cổ đông, nhà đầu tƣ tƣơng lai, chủ ngân hàng, các nhà cung cấp tín dụng, các nhà quản lý trong nội bộ doanh nghiệp.
Mỗi đối tƣợng trên sử dụng thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp cho một mục đích khác nhau. Nhóm có quyền lợi gián tiếp: bao gồm các cơ quan quản lý Nhà nƣớc khác ngoài cơ quan thuế, ngƣời lao động, ngoài ra các thông tin từ phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp còn đƣợc các nhà nghiên cứu, sinh viên, học viên kinh tế quan tâm để phục vụ cho nghiên cứu và học tập. Các đối thủ cạnh tranh cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi, doanh thu và các chỉ tiêu tài chính khác trong điều kiện có thể để tìm biện pháp cạnh tranh với doanh nghiệp. Cơ sở dữ liệu phân tích báo cáo tài chính 1.
Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là một Báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm theo giá trị ghi sổ của tài sản và nguồn vốn. BCĐKT cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản và cơ cấu nguồn vốn hình thành tải sản và đƣợc phân loại, sắp xếp thành từng loại, mục và từng chỉ tiêu bộ phận cụ thể. Đồng thời, các chỉ tiêu cũng đƣợc mã hóa để thuận tiện cho việc kiểm tra, đối chiếu cũng nhƣ việc xử lý trên máy vi tính và đƣợc phản ánh theo số đầu năm, số cuối năm [7,tr. 10 Bảng cân đối kế toán phải đƣợc lập đúng theo mẫu quy định, phản ánh trung thực tình hình tài sản của doanh nghiệp và phải nộp cho các đối tƣợng có liên quan đúng thời hạn quy định.
Tính chất cơ bản của BCĐKT là tính cân đối giữa tài sản và nguồn vốn, biểu hiện qua cân đối kế toán: Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn Nhƣ vậy, nhìn vào BCĐKT, sự biến động các khoản mục trên BCĐKT sẽ phác họa một cách đầy đủ tình hình biến động của tài sản và nguồn vốn hình thành nên tài sản của Công ty, cho biết quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Để thấy đƣợc thực trạng tài chính của doanh nghiệp, phân tích tài chính cần đi sâu xem xét sự phân bổ về tỷ trọng của tài sản, nhiệm vụ cũng nhƣ sự biến động của từng khoản mục để đánh giá sự phân bổ tài sản và nhiệm vụ có hợp lý hay không và xu hƣớng biến động của nó. Tùy theo từng loại hình kinh doanh, từng loại hình doanh nghiệp mà sự phân bổ tài sản và nhiệm vụ trong tổng tài sản cao hay thấp. Nếu là Công ty chuyên sản xuất thì tài sản dài hạn sẽ chiếm tỷ trọng cao, chủ yếu là TSCĐ trong tổng tài sản của Công ty.
Nếu là Công ty kinh doanh thƣơng mại thì tài sản ngắn hạn sẽ chiếm tỷ trọng cao, chủ yếu là tài sản lƣu động trong tổng tài sản. Nếu là Công ty xây lắp thì tài sản ngắn hạn cũng sẽ chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản. Xem xét mối quan hệ trong sự biến động của tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn kết hợp với việc phân tích nguồn vốn chủ sở hữu, nợ phải trả để đánh giá tính hợp lý trong xu hƣớng biến động. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Báo cáo tài chính phản ánh tình hình và kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán của doanh nghiệp.
BCKQHĐKD 11 phản ánh tổng hợp các chỉ tiêu liên quan đến doanh thu, chi phí và kết quả theo từng hoạt động (HĐKD, HĐTC và hoạt động khác)[7,tr. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có tác dụng nhƣ sau: + Thông qua các chỉ tiêu trong báo cáo, các đối tƣợng sử dụng thông tin kiểm tra, phân tích và đánh giá một cách khái quát doanh thu, thu nhập, chi phí, lợi nhuận của từng hoạt động. Qua đó đánh giá một cách khái quát kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. + Thông qua số liệu trên báo cáo mà đánh giá đƣợc xu hƣớng phát triển của doanh nghiệp.
Từ đó có biện pháp khai thác khả năng tiềm tang của doanh nghiệp cũng nhƣ hạn chế, khắc phục những tồn tại trong tƣơng lai. - Thông tin cung cấp của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: trình bày những thông tin về doanh thu, chi phí, lãi (hoặc lỗ) phát sinh từ hoạt động kinh doanh thông thƣờng; về thu nhập, chi phí và lợi nhuận khác phát sinh từ những hoạt động ngoài hoạt động kinh doanh thông thƣờng của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh. Đồng thời báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn phản ánh chi phí thuế TNDN (bao gồm chi phí thuế TNDN phải nộp trong kỳ và chi phí thuế TNDN hoãn lại) và lợi nhuận trƣớc thuế, lợi nhuận sau thuế trong kỳ kinh doanh đó. - Kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Căn cứ vào các quy định của Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” và TT200/2014 ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính [12] thì Báo cáo kết hoạt động kinh doanh gồm tối thiểu các khoản mục chủ yếu và đƣợc sắp xếp theo kết cấu quy định tại Mẫu số B02-DN Báo cáo gồm có 5 cột: Cột số 1: Các chỉ tiêu báo cáo; Cột số 2: Mã số của các chỉ tiêu tƣơng ứng; 12 Cột số 3: Số hiệu tƣơng ứng với các chỉ tiêu của báo cáo này đƣợc thể hiện chỉ tiêu trên bản thuyết minh báo cáo tài chính; Cột số 4: Tổng số phát sinh trong kỳ báo cáo năm; Cột số 5: Số liệu của năm trƣớc (để so sánh).
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lƣu chuyển tiền tệ (BCLCTT) là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lƣợng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.