ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO (World Health Organization) thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh không lây nhiễm. Trong khi các bệnh lây nhiễm đang từng bước được khống chế và đẩy lùi thì các bệnh không lây như bệnh tim mạch, tâm thần, ung thư v.v… và đặc biệt là rối loạn chuyển hóa glucid và lipid ngày càng gia tăng. Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa glucid mạn tính, khá phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Tỷ lệ bệnh có xu hướng tăng dần theo thời gian và theo tốc độ phát triển của xã hội.
Trên thế giới hiện đã có hơn 370 triệu người mắc đái tháo đường, mỗi năm có thêm 7 triệu người mắc mới trong đó khoảng 50% số bệnh nhân mắc không được phát hiện sớm, cứ 10 giây có một người chết do đái tháo đường, cứ 30 giây có một người phải cắt cụt chi do biến chứng của đái tháo đường. Đái tháo đường týp 2 là bệnh mạn tính với đặc điểm rối loạn chuyển hóa glucose liên quan với giảm khả năng đáp ứng của mô với insulin (kháng insulin). Tăng glucose mạn tính gây tổn thương mạch máu và thần kinh khắp cơ thể bao gồm bệnh võng mạc, bệnh thần kinh và bệnh thận. Hơn nữa, nguy cơ bệnh tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 cũng cao hơn ở cộng đồng.
Vì vậy, đái tháo đường týp 2 đang là một gánh nặng sức khỏe cộng đồng và làm gia tăng chi phí điều trị ở các nước công nghiệp [61], [64]. Giảm nồng độ magie ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 đã được chứng minh qua một số nghiên cứu trên thế giới [40], [41], [48], [52], [61]. Sự thiếu hụt magie đã có những tác động không tốt đến nồng độ glucose nội môi và sự nhạy cảm đối với insulin cũng như làm gia tăng các biến chứng như bệnh võng mạc, huyết khối và tăng huyết áp. Tỷ lệ giảm magie ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 là 25-39% (trích dẫn theo [52]).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 2 Nồng độ magie máu giảm liên quan đến sự kiểm soát glucose và các biến chứng ở bệnh nhân đái tháo đường do làm giảm hoạt động của tyrosin kinase tại thụ thể của insulin làm giảm hoạt động của insulin và dẫn đến kháng insulin [61]. Giảm magie có thể làm tăng hoạt động của tiểu cầu, tăng đáp ứng của mạch máu và tuyến thượng thận với angiotensin II, kích thích giải phóng ra thromboxan 2 dẫn đến tổn thương mô bởi các gốc tự do. Thiếu hụt magie còn đóng vai trò trong rối loạn lipid máu đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường [47]. Tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về nồng độ magie ở bệnh nhân đái tháo đường.
Liệu nồng độ magie ở bệnh nhân đái tháo đường thay đổi ra sao và nồng độ magie có liên quan như thế nào với nồng độ một số thành phần lipid và một số chỉ số khác? Xuất phát từ những vấn đề trên đề tài “Nồng độ magie huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 tại bệnh viện trường Đại học Y khoa Thái Nguyên” được thực hiện với mục tiêu: 1. Xác định nồng độ magie huyết tương và một số chỉ số hóa sinh khác ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị tại bệnh viện trường Đại học Y khoa Thái Nguyên. Xác định mối liên quan giữa nồng độ magie huyết tương với một số triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Đại cƣơng về bệnh đái tháo đƣờng Theo WHO năm 1994 và theo hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA năm 1997) thì “Bệnh ĐTĐ được biểu hiện bằng tình trạng tăng glucose máu, rối loạn chuyển hóa glucid, lipid và protein, thường kết hợp với giảm tương đối hay tuyệt đối về tác dụng và/hoặc sự bài tiết insulin”. Mặc dù bệnh có nguồn gốc nội tiết nhưng biểu hiện là bệnh lý rối loạn chuyển hóa. Sự rối loạn chuyển hóa glucid đã kéo theo hàng loạt các rối loạn chuyển hóa khác như chuyển hóa protein và lipid, các rối loạn này gây tổn thương các cơ quan, tổ chức, trước hết là hệ tim mạch và hệ thần kinh. Tình hình bệnh ĐTĐ trên thế giới và tại Việt Nam Theo điều tra của WHO, năm 1995 thế giới có khoảng 118,4 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, trong đó ĐTĐ týp 2 là 113,3 triệu người chiếm 97,6%.
Năm 2000 có khoảng 146 triệu người và dự tính tới năm 2030 sẽ lên tới 552 triệu người mắc đái tháo đường và 398 triệu người bị tiền đái tháo đường. Trong đó, 90% là người bệnh mắc đái tháo đường týp 2. Theo cảnh báo của Quỹ đái tháo đường thế giới (WDF), sự gia tăng bệnh đái tháo đường ở các nước phát triển là 42% nhưng ở các nước đang phát triển lại lên tới 170%. Vào những năm cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, đái tháo đường là bệnh không lây phát triển nhanh nhất, là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 hoặc thứ 5 ở các nước phát triển nhưng hiện nay bệnh đái tháo đường có xu hướng gia tăng nhanh ở các nước đang phát triển nơi mà có sự thay đổi nhanh về kinh tế, lối sống và tốc độ đô thị hoá [26].
Tại Việt Nam, bệnh đang có chiều hướng tăng nhanh trong những năm gần đây, đặc biệt là ĐTĐ týp 2. Năm 1993 Mai Thế Trạch và cộng sự điều tra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 4 5416 người trên 15 tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh, kết quả tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 2,52% [33]. Năm 1996, Trần Hữu Dàng và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tỷ lệ mắc ĐTĐ ở 4980 người trên 15 tuổi tại Huế. Kết quả cho thấy tỷ lệ tỷ lệ ĐTĐ là 0,96%, trong đó nội thành là 1,05, ngoại thành là 0,6% [12].
Năm 2000, khi tiến hành điều tra trên 2017 người trên 16 tuổi ở Hà Nội, Tô Văn Hải và cộng sự đã xác định tỷ lệ mắc ĐTĐ là 3,62% [17]. Theo điều tra của Tạ Văn Bình và cộng sự năm 2001, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở các thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh là 4,9% [4]. Năm 2002, một cuộc điều tra trên phạm vi toàn quốc của bệnh viện Nội tiết, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở lứa tuổi 30- 64 là 2,7%, thành phố là 4,4%, đồng bằng ven biển là 2,2%, miền núi là 2,1% [3]. Năm 2005, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Huyền cũng trên địa bàn Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ đã tăng lên 6,7% [20].
Theo số liệu thống kê năm 2014 thì trong 10 năm qua tỷ lệ ĐTĐ tại Việt Nam đã tăng đến 211% với gần 5 triệu người mắc và cứ 10 ca thì có 6 ca được chẩn đoán là ĐTĐ có biến chứng cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn tới mù lòa, tàn phế, thậm chí là tử vong. Theo thống kê về tình hình chăm sóc sức khỏe bệnh nhân ĐTĐ tại Việt Nam và 11 quốc gia Châu Á khác năm 1998, thì tại Việt Nam tỷ lệ ĐTĐ týp 2 là 91,8%, chỉ có 7,3% là ĐTĐ týp 1 và 0,9 % là các ĐTĐ khác [5]. ĐTĐ týp 2 chiếm 90% các trường hợp, thường gặp ở người trên 40 tuổi đặc biệt là người béo. Có mối liên quan chặt chẽ giữa rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và tình trạng kháng insulin cũng như tăng nồng độ insulin huyết ở người béo.
Rối loạn lipid kèm theo ở bệnh nhân ĐTĐ làm tăng sự kháng insulin ở tế bào đích, đặc biệt là tế bào cơ [16]. Sinh lý bệnh của bệnh đái tháo đƣờng Ở người bình thường tiểu đảo Langerhans của tụy có 3 loại tế bào: Alpha (), bêta () và delta () theo thứ tự bài tiết: Glucagon, insulin và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 5 somatostatin, trong đó insulin và glucagon tham gia vào quá trình điều hoà glucose máu. * Insulin được bài tiết bởi tế bào của tiểu đảo Langerhans và là hormon có tác dụng làm giảm glucose máu bằng cách: + Tăng sự thẩm thấu glucose qua màng tế bào. + Tác dụng trực tiếp chuyển glycogensynthetase từ dạng không hoạt động thành dạng hoạt động.
+ Kích thích tổng hợp glucokinase ở gan, đồng thời lại ức chế tổng hợp một số enzym xúc tác sự tân tạo glucose như pyruvat carboxylase. + Giảm tác dụng của glucose 6- phosphatase. + Ức chế quá trình thủy phân lipid, tăng cường quá trình thoái hóa glucose. * Glucagon có tác dụng làm tăng nồng độ glucose máu, cũng như adrenalin, glucagon tăng cường sự phân hủy glycogen ở gan.
Đối với ĐTĐ týp 2, đặc điểm sinh lý bệnh nổi bật là những rối loạn không đồng nhất biểu hiện bằng giảm nhạy cảm với insulin ở mô ngoại vi và sự suy giảm chức năng của tế bào bê ta biểu hiện bằng những rối loạn bài tiết insulin. Để duy trì lượng glucose máu bình thường cần có sự điều hòa của 3 yếu tố: Sự bài tiết insulin từ tế bào của tiểu đảo Langerhans, quá trình thu nạp và sử dụng insulin ở mô ngoại vi (chủ yếu là từ cơ vân và một phần ở mô mỡ), ức chế sản xuất insulin ở gan. Trong thực tế, khi nồng độ glucose máu đã ở mức cao (>10 mmol/l) thì cả quá trình bài tiết insulin của tế bào và khả năng hoạt động của insulin đều bị suy giảm nặng [4], [14], [32]. Phân loại bệnh ĐTĐ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn c 6 Có nhiều cách phân loại bệnh ĐTĐ.Hiện nay theo WHO (1997) thống nhất phân loại bệnh ĐTĐ như sau: 1.
Đái tháo đường týp 1 Đái tháo đường týp 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5 - 10% tổng số bệnh nhân đái tháo đường thế giới. Nguyên nhân do tế bào bê ta bị phá hủy, gây nên sự thiếu hụt insulin tuyệt đối cho cơ thể (nồng độ insulin giảm thấp hoặc mất hoàn toàn). Đái tháo đường týp 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thường được phát hiện trước 40 tuổi. Người bệnh đái tháo đường týp 1 sẽ có đời sống phụ thuộc insulin hoàn toàn.
Đái tháo đường týp 2 Đái tháo đường týp 2 chiếm tỷ lệ khoảng 90%, thường gặp ở người trưởng thành trên 40 tuổi. Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Tuy nhiên, do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống, về thói quen ăn uống, đái tháo đường týp 2 ở lứa tuổi trẻ đang có xu hướng phát triển nhanh. Đặc trưng của đái tháo đường týp 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt bài tiết insulin tương đối.