Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Để hiểu được nguồn cội sản sinh ra ca dao Quảng Ninh, trước hết phải nắm được một cách khái quát về vùng đất mỏ này cũng như hiểu được một số khái niệm cơ bản có liên quan đến nội dung nghiên cứu trong luận văn. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đời sống văn hóa ở Quảng Ninh 1. Vài nét về điều kiện tự nhiên Quảng Ninh là một tỉnh ven biển, nằm ở địa đầu phía Đông Bắc. Nơi đây phần lớn là đồi núi nhưng do kinh tế đặc biệt phát triển và là một cực của tam giác kinh tế nên Quảng Ninh được xếp vào nhóm các tỉnh đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ.
Với toạ độ địa lý khoảng 106 độ 26' đến 108 độ 31' kinh độ Đông và từ 20 độ 40' đến 21 độ 40' vĩ độ Bắc, tỉnh Quảng Ninh có dáng một con cá sấu nằm chếch theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Phía Đông hướng ra phía Vịnh Bắc Bộ; phía Tây Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Tây Nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng; phía Bắc giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) với cửa khẩu Móng Cái và Trinh Tường. Diện tích toàn tỉnh Quảng Ninh là 8. Trong đó diện tích đất liền là 5.
Riêng các đảo có tổng diện tích là 619,913 km2 với hơn 2000 hòn đảo (chiếm 2/3 số đảo cả nước) đã liên kết lại thành tuyến dài 200km theo hướng vòng cung, tạo thành bức tường vững chãi chống xâm lược. Trong sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” đã miêu tả vùng đất này “Lấy núi làm thành, chiếm chỗ cao, giữ chỗ hiểm, núi che sau lưng, biển bọc quanh mình, thế đất hẻo lánh mà ổn định, trong vững, ngoài kín. Quả thật là nơi hình thẳng của nước Nam”. [21] Với vị trí địa lý đắc địa như trên cùng kiến tạo địa hình tự nhiên, có cả núi cao (chiếm 80% diện tích đất đai) và sông suối (có khoảng 30 sông suối) đã chia Quảng Ninh thành 3 vùng: vùng núi gồm những dãy núi có độ cao từ 900 - 1100m với hướng chủ đạo là Đông Bắc - Tây Nam; vùng trung du và đồng bằng ven biển - nơi được bồi đắp phù sau màu mỡ quanh năm từ các con sông; vùng biển và hải đảo.
Ba tiểu vùng 11 c này đã góp phần tạo điều kiện cho Quảng Ninh thêm phong phú, đa dạng và phát triển về mọi mặt như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Vì thế, từ xa xưa, đây đã là nơi giao thương, buôn bán sầm uất trong cả nước. Còn ngày nay, Quảng Ninh là tỉnh có nhiều thành phố nhất Việt Nam, có 4 thành phố trực thuộc (Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí), 1 thị xã (Quảng Yên) và 9 huyện (Đông Triều, Tiên Yên, Hải Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, Cô Tô, Đầm Hà, Hoành Bồ, Vân Đồn). Như vậy, với điều kiện tự nhiên cùng sự đa dạng về dân tộc, khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng.
là một trong những điều kiện thuận lợi để Quảng Ninh phát triển kinh tế, chính trị và giao lưu văn hóa với các vùng trong nước và quốc tế, là mảnh đất màu mỡ cho văn học dân gian phát triển ở Quảng Ninh. Đặc điểm kinh tế, xã hội Trong thời kì hội nhập quốc tế, đất nước ta đang tích cực thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm đưa Việt Nam sánh ngang với các nước năm châu như lời Bác căn dặn. Vì thế, việc xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm là điều rất quan trọng. Được ví như một Việt Nam thu nhỏ, hội tụ đầy đủ các điều kiện thuận lợi (về vị trí địa lý, địa hình, tự nhiên, nhân lực) để phát triển kinh tế - xã hội, Quảng Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, là cửa ngõ quan trọng của hành lang kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14/9/2005 về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã xác định: “Hình thành các trung tâm kinh tế lớn tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và xây dựng khu kinh tế tổng hợp Vân Đồn (Quảng Ninh)”. Năm 2010, Quảng Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 7 ở Việt Nam. Nền kinh tế ở Quảng Ninh phát triển rất đa dạng, trong đó có các ngành chủ lực như than, điện, cảng và du lịch đều ở mức cao. Về giao thông: Đường bộ có đường cao tốc Hạ Long - Hải Phòng; Có đường biên giới đất liền với Trung Quốc, Quảng Ninh có hệ thống cửa khẩu phân bố trên dọc tuyến biên giới (cửa khẩu Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh), đặc biệt cửa khẩu quốc tế Móng Cái là nơi hội tụ giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu hút các nhà đầu tư, là cửa ngõ giao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các nước trong khu vực.
Đường biển có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu như cảng 12 c Cái Lân - cửa khẩu quốc tế đường biển có năng lực bốc xếp cho tàu hàng vạn tấn. tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành vận tải đường biển giữa nước ta với các nước trên thế giới. Về các khu công nghiệp: có khu công nghiệp đóng tàu, khu công nghiệp Cái Lân, Việt Hưng (Hạ Long), Hải Yên (Móng Cái); Khu công nghiệp cảng biển Hải Hà (huyện Hải Hà); Khu công nghiệp phụ trợ ngành than; Khu kinh tế Vân Đồn, Khu kinh tế Cửa khẩu Móng Cái. Đặc biệt, việc hình thành vùng công nghiệp khai thác than từ rất sớm bởi 90% trữ lượng than của cả nước thuộc về tỉnh Quảng Ninh.
Vùng khai thác than, chế biến, tiêu thụ than có phạm vi rất lớn, trải dài từ Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Hạ Long và Cẩm Phả. Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào cho ngành công nghiệp, sản xuất trong và ngoài nước, phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ ở khắp các lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thủy hải sản… Quảng Ninh là tỉnh đầu tàu của phía Bắc và cũng là nơi tạo nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều tác gia, cho ra đời những tác phẩm nổi tiếng gắn với những loại hình văn học nghệ thuật mang nét đặc sắc rất riêng mà chỉ địa phương này mới có. Tiêu biểu có thể kể đến ca dao vùng mỏ hay ca dao vùng biển, hình thức hát giao duyên trên biển, hát đối, hát nhà tơ cửa đình… Không những thế, là một trong những cái nôi xuất hiện loài người từ rất sớm trên trái đất với nền văn hóa Soi Nhụ, Hạ Long; là nơi ghi lại dấu ấn các đời vua Hùng; mảnh đất có bề dày lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước; hội tụ đầy đủ các yếu tố tự nhiên: rừng, núi, nước non, biển đảo, sông hồ.
Quảng Ninh là mảnh đất lưu giữ lại rất nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh. Đến nay, toàn tỉnh có 626 danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa các loại, trong đó có 125 di tích được xếp hạng, với 64 di tích được xếp hạng quốc gia, 61 di tích cấp tỉnh. Vì thế, Quảng Ninh là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam. Các hệ thống danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa có tầm vóc quốc gia và quốc tế như: di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo và là một trong bảy Kì quan Thiên nhiên Mới của thế giới.
Với di tích văn hóa Yên Tử, bãi cọc Bạch Đằng, Đền Cửa Ông, Đình Quan Lạn, 13 c Đình Trà Cổ, núi Bài Thơ, chùa Long Tiên, đình Quan Lạn, chùa Cái Bầu, chùa Ba Vàng, chùa Lôi Âm. thuận lợi cho phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch văn hóa tâm linh. Và chính những địa danh, những thắng cảnh tươi đẹp này đã khơi gợi cảm hứng sáng tác, cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp, sự giàu có của thiên nhiên, đất nước, con người của người dân nơi đây và du khách thập phương khi đến với Quảng Ninh. Đời sống văn hóa Nền văn hóa Việt Nam được xem là một nền văn hóa có bản sắc, có đặc tính là thống nhất trong sự đa dạng.
Sự thống nhất ấy được minh chứng bằng một nền văn hóa chung đậm đà bản sắc dân tộc. Còn sự đa dạng được biểu hiện qua các đặc điểm nổi trội của các vùng văn hóa và các khía cạnh văn hóa trong đời sống con người. Tác giả Ngô Đức Thịnh trong cuốn “Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam” (Nxb Khoa học xã hội, H, 1993) đã chia nước ta thành bảy vùng văn hóa là: Đồng bằng Bắc Bộ, Việt Bắc, Tây Bắc và vùng núi Bắc Bộ, Duyên hải Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung và Nam Trung Bộ, Trường Sơn - Tây Nguyên, Nam Bộ. Sự phân chia đó dựa vào đặc trưng của từng vùng lãnh thổ có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống, các mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Còn trong cuốn “Các vùng văn hóa Việt Nam” của Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận (Nxb Văn học, 1995) lại dựa trên tiêu chí về địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà chia Việt Nam thành chín vùng văn hóa, tiêu biểu là văn hóa Thăng Long Đông Đô - Hà Nội; Vùng văn hóa đồng bằng miền Bắc Việt Nam; Vùng văn hóa Việt Bắc. Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” do Trần Quốc Vượng chủ biên (NXB Giáo dục, 1997) đã đưa ra cách hiểu của mình về vùng văn hóa “Điều kiện tự nhiên và lịch sử, xã hội của mỗi vùng không giống nhau. Những nét khác nhau của các vùng đất về các phương diện ấy sẽ tạo ra phát triển của văn hóa có những điểm khác nhau”. Dựa vào đặc điểm tự nhiên và xã hội, về kinh tế, chính trị, văn hóa chia Việt Nam thành sáu vùng văn hóa như: Vùng văn hóa Tây Bắc; Vùng văn hóa Việt Bắc; Vùng văn hóa Bắc Bộ; Vùng văn hóa Trung Bộ; Vùng văn hóa Tây Nguyên; Vùng văn hóa Nam Bộ.
14 c Từ những quan điểm trên thì Quảng Ninh nằm trong vùng văn hóa Bắc Bộ - vùng văn hóa được coi là cái nôi của quốc gia Đại Việt, có nền văn hóa dân gian lâu đời và phong phú.