Chương 1: Thơ Nôm During lt thé ki XVII ~ XIX din mao va thành tú “Chương 2: Yêu tổ tình, tự sự trong thơ Nôm Đường lu thé ki XVI — XIX ohn tr hg đỀ ải và cái tôi trữ tỉnh, “Chương 3: Yêu tổ uữ tình, tự sự trong thơ Nôm Đường luật th kỉ XVIH — XIX phương thức th hiện. NỘI DUNG CHƯƠNG1 ‘THO NOM DUONG LUAT ‘THE Ki XVIII — XIX - DIEN MAO VA THANH TUU, L1. Điện mạo thơ Nôm Đường luật thể kỉ XVII-XIX * «Thơ Nôm Đường luật là bao hàm những bãi thơ viết bằng chữ Nom theo luật Đường hoàn chỉnh có cả những bải viết theo thơ luật Đường phá cách- những bài có chen câu ngũ ngôn,lục ngôn vào bài thơ thất ngôn. ” [48,tr 141] "Nhà nghiền cứu Lã Nhâm Thìn cho rằng : “.
diện mạo thơ Nôm Đường luật là điện mạo đường như không có ổi du thơ chập chững cũng như không có tuổi già. [49, tr 5] Từ th kỉ XII đến thé kỉ XVI, thơ Nôm Đường luật không phải là không có những thành tựu. Nhìn chung đó là năm thể kỉ phát tiển có nhiễu thành tu của thơ Nôm Đường luật. Tuy nhiên trong năm thế kỉ đó, thơ Nôm Đường luật đã qua hai chặng có những đặc điểm riêng khá rõ.
Giai đoạn Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương là đoạn đi từ thể nghiệm đến ổn định triển rực rỡ nh của thể thơ này. Giải đoạn sau Hỗ Xuân Hương là gi te sự phát tiễn cia tho Nôm Dường hụt, thành tưu không bằng trước nhưng vẫn sõ những đồng góp to lớn.39] Văn học Việt Nam thể kỉ XVIII - XIX vin gdm bai bộ phận văn học chữ Hin và văn hoe cht Nom, cả bai đều phát triển, tuy nhiễn giải đoạn này nên văn học chữ Nôm phát tiển rực rỡ hơn sau hơn một thể kỉ không có gì đặc sắc. Ngày nay nối đến thành. tựu văn học Việt Nam thể kỉ XVIHI= XIX, chủ yêu nói đến văn học chữ Nôm, mặc dù văn học chữ Hán không phải là không có những thành tựu đáng kể lên mạo cña thơ Nôm Dường luật được khởi sắc là phải kể đến các tác giả tiêu biểu của thơ Nôm ường luật giải đoạn này như.
Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chi, Nguyễn Công Trú, Nguyễn Khuyến, Trần TẾ Xương Lã Nhâm Thìn nhận xét: * Hồ Xuân Hương gần như là trường hợp duy nhất không vit với bắt cứ một ánh sắng của học thuyết tôn lo nào, không một học thuyết chính tr nào từ phía trên doi xuống, Hỗ Xuân Hương là sự gii ôa hoàn toàn 7 Khải giáo điều phong kiến.Với thơ Hồ Xuân Hương, thơ Đường luật không còn ở địa vị “đẳng cắp trên” trong hệ thẳng th loại văn học trung đại, và với nhà thơ, thể thơ Đường luật đã xa phong cách trữ tỉnh trang nghiêm cao qúy đỂ đi vào cuộc sống đồi thường.” [49,r46] Ho Xun Hương tổ cáo chế độ đa thể và nỗi đau thân phận của người phụ nữ. Bai tho “Lam fể ” của Hỗ Xuân Hương đã kích mạnh mẽ o chế độ đa thể và là tiếng nói đôi quyền sống, quyền hạnh phúc lứa đôi cho người phụ nữ Ke dip chin bang, ke lan King. CChém cha cái kiếp lấy chẳng chung "Năm thì mười họa hay chăng chớ `ột tháng đổi lần có cũng không Cổ đắm ăn sôi, xối li hẳm Ci bằng làm mướn, mướn không công, Thân này ví biết đường này nhĩ “Thả trước thôi đành ở vậy xong. (Lam lẽ- Hồ Xuân Hương) “Với Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Dường luật tiếp tục xu hướng dân tộc hóa đồng thời chuyển nhanh trên con đường dân chủ hóa nội dung và hình thức thể loi ‘Xu hung din chi héa thể thơ Đường luật là xu hướng manh mẽ nhất trong sắng tác của Hồ Xuân Hương.
Với Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Đường luật không còn địa vỉ ở đẳng cắp trên trong hệ thống thể loi văn học trung đại, và với nhà thơ, thể thơ "Đường luật đ rời xa phong cách trừ tỉnh trang nghiêm, cao quý dé di thẳng vào cuộc sống đời thường, đó là một cuộ cách tân đầy ý ngha" [49 r46] Gop phần tạo nên điện mạo thơ Nôm Đường luật thể ki XIX là Nguyễn Công. “Tr, nha the thé hiện chí nam nhỉ, ảnh nghéo.tho Nôm Nguyễn Công Trứ mang đâm dấu ấn tòi dai 1d nt, sing tie cia Nguyễn Công Trứ toàn thơ Nôm, chỉ có một bài chữ Hán là bài Tự Trào, Cách diễn đạt của Nguyễn Công Trứ trong thơ 'Nôm bình dị, mộc mạc, ời thơ gần gũi với người dân, nhiề bải thơ mang dáng vóc của bài ca dao, tục nữ Một lưng một vốc kém chỉ mồ, (Cho biết chanh chua khế cũng chua "Đã chắc bữa trưa chữa bữa tôi, Mà tham con giếc tiếc con rô. ‘Trim điều đồ tội cho nhà oán, Nhiều si không ai đồng cửa chùa Khó bó thôn còn nói khéo, ai có quấy vẫy nên hồ (Trồ Đời - Nguyễn Công Trừ) Đến giai đoạn nữa thể kỉ XIX đất nước có những biến động lớn, thực din Pháp bắt lầu xâm lược nước ta Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước chống. Pháp, người có tắm gương sáng về lòng yêu nước và trách nhiệm của người cằm bút rong ý thức sảng tác của mình “Chờ bao nhiêu đạo thuyền không Khim ‘Bim miy thing gian bút chẳng tà (Đương Từ- Hà Mậu) Những bai tho Nôm của Nguyễn Đình Chiếu phản ánh kịp thời những sự kiến lớn của lch sử dân tộc, thể hiện tắm long yêu nước của các nghĩa sĨ, và người ning din yêu nước Tỉnh thần yêu nước, chống Pháp của Nguyễn Đình Chiễu vẫn còn sắng mãi trong lông người Nam Bộ ông mãi là ‘Nei sao sing trén bẩu trời Nam Bộ” Một gương mặt tiêu biểu tạo nên diện mạo thơ Nôm Đường luật thập kỉ cuối củng của thể kỉ XIX là Nguyễn Khuyến ~ Thơ Nguyễn Khuyến có sự kết hợp gia trào phúng và trữ tình tạo nên những vẫn thơ mang diện mạo riêng: "Đã bẫy lâu nay, bắc tối nhà Trẻ thời đi vắng, chợ thôi xa ‘Ao stu nue ea, kon chai cá ‘Von rng ri thưa, Khó đuổi gà Cải chữa ra hoa, cả mới nụ Bầu vừa rụng rồn, mướp đương hoa Đầu tò tiếp khách, tu không có Đắc đến chơi đây ta với ta (Bạn đến chơi nhà = Nguyễn Khuyn) “Thơ Nôm Nguyễn Khuyến để lại ân tượng sâu sắc, là nhà thơ của làng mạc và dân quê và là nhà thơ cổ én của mùa thu làng cảnh Việt Nam.
“Tai ning của "Nguyễn Khuyến là ở chỗ, ông chiếm lĩnh được thơ Đường luật, chiếm lĩnh được ‘quan niệm “ trung hữu họa", chiếm lĩnh được khả năng diễn dat dén dinh cao trong khả năng gắn bó với quê hương đất nước 12,1283) Trần Tế Xươn sáng tác vào những thập, lên cuối thế ky XIX, là nhà thơ tiêu biểu trong dòng tho Nom Đường luật giai đoạn này. Ông tiếp tục xu hướng trào. phúng và trừ tình như Nguyễn Khuyến, trào phúng của Nguyễn Khuyến là trào phúng ở nông thôn, nhưng với Tả Xương là xã hội thực đần phong kiến ở thành thị "Nhà thơ Tả Xương không nhằm vào mục đích mgôn ch, đhuật hoài mà thể hiện sự túng dung tự tại của một nhà Nho trước một xã hội đảo điên và thể hiện cái ngông nghênh tự mãn của một con người thị dân: phd Hang Nâu có phống sành Mặt thời lơ láo, mắt thời xanh it râu inh vo, con bu nd (Quite mit khinh ds, ei b6 anh Bài bạc kiệu cỡ cao nhất xứ Rượu ch trai gái đủ tam khoanh, “Thế mà vẫn nghỉ rằng ta giồi “Cứ việc ăn chơi, chẳng học hành. (Tự cười mình- Trần TẾ Nương) “Tú Xương có tỉnh thin dân tộc rất sâu sắc.con người của Tú Xương là con người ưu thồi mẫn thé, mang tâm trang u ất của một kẻ mắt nước và hoa sen trong tim hồn luôn luôn bị vẫy bùn lên.
Trần tre, văn trở lình hồn cùng thân thé” I9.0246] Thơ bắt nguồn từ chính cuộc sống, các nhà thơ không chỉ bằng lông với việc «ling chi Hin sing tác mã ích cực sử dụng chữ Nôm, đồng ngôn ngữdân tộc để sáng tác, do đó bộ phân văn học chữ Nôm ph triển mạnh mẽ. Việc dùng char Nm cũng là biểu hiện lòng tự hào về dân tộc, để ao tiếng nói của dân tộc. Trong thể thơ [Nom Đường luật th kỉ XVII — XIX chúng ta gặp những đề tài phổ biển của văn "học giai đoạn trước, đó là thể tài ịnh sử và vịnh thiên nhiên, nhưng giai đoạn này sắc nhà thơ không còn ngụ ý của những bài học về đạo đúc. Nhà thơ viết về thiên nhiên là để nối lên xúc cảm của mình trước những đối tượng ấy, đồng thời qua đó bộc lộ nhận thức của mình về những vẫn đề của cuộc sống.
ĐỀ tải cơ bản rong thơ 10 'Nôm Đường luật giả đoạn này chủ yêu là những vẫn để thiết yêu của cuộc sống, sắc nhà thơ viết vỀ chiến tranh phong kiến, những tải họa của nó như trong thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Dinh Chiễu hay các nhà thơ viết về sự thối nát của giải cấp pho kí thống tị, về cuộc sống khổ cực của lần dân ong thơ Nguyễn Khuyến, Trần “Xương. Thơ Nôm Dưỡng luật đã bắt đầu thoát khôi loại tho. Thi “ngôn chí. đễ quay trở lại phản h hiện thực đời sống đa dạng của con người.
Do, thay đổi cảm quan thơ, nên mặc di sing tae bing thể thơ Đường luật, một thể thơ vốn có nhiễu quy phạm chất chẽ, sẵn với quan niệm của nhà Nho, nhưng các nhà tho vit tho Nom Đường luật ở Việt nam kể, đưa thơ về gần với cuộc sống hơn. Đây cũng là quá tình dân tốc hóa và dân chủ hóa thể thơ Đường luật ở Việt Nam. Thành tựu của thơ Việt Nam ở thời kỳ này có những đồng gớp tích cực của các nhà thơ Nôm Đường luật như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trữ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương “Chờ bao nhiều đạo thuyền không khẩm ‘am mấy thẳng gian bút chẳng tà (Dương Từ- Hà Mậu, Nguyễn Đình Chiều) TH câu thơ mang đến cho \ một quan niện văn chương thời tung đại, đồ là quan niệm “săn di tai đạo”.