Luận văn Thạc sĩ: Song tính trữ tình, tự sự trong thơ Nôm Đường luật thế kỷ 18-19

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu ngữ văn song tính trữ tình tự sự trong thơ nôm đường luật thể kỷ xviii xix, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
95
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khám phá song tính trữ tình tự sự trong thơ Nôm Đường luật

Thơ Nôm Đường luật thế kỷ XVIII-XIX là một đỉnh cao của văn học trung đại Việt Nam, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ trong tư duy nghệ thuật. Giai đoạn này chứng kiến sự kết hợp độc đáo, tạo nên đặc trưng song tính trữ tình tự sự trong thơ Nôm Đường luật. Đây không chỉ là sự hòa quyện giữa cảm xúc cá nhân và câu chuyện thế sự, mà còn là quá trình dân tộc hóadân chủ hóa một thể thơ vốn có nguồn gốc ngoại lai. Các tác gia tiêu biểu như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, và Trần Tế Xương đã phá vỡ những quy phạm khắt khe của thơ luật Đường để đưa vào đó hơi thở của đời sống, ngôn ngữ bình dân và cái tôi cá nhân sâu sắc. Sự song hành giữa yếu tố kể chuyện (tự sự) và yếu tố bộc lộ cảm xúc (trữ tình) không chỉ làm phong phú nội dung mà còn mở ra khả năng biểu đạt vô hạn cho thơ ca. Yếu tố tự sự đóng vai trò kiến tạo bối cảnh, kể lại một sự việc, một tình huống, trong khi yếu tố trữ tình là dòng chảy cảm xúc, suy tư tuôn ra từ bối cảnh đó. Sự đan xen này khiến tác phẩm vừa có chiều sâu hiện thực, vừa có sức lay động tâm hồn, thoát khỏi lối thơ "ngôn chí" thuần túy để phản ánh chân thực hơn những trạng thái đa dạng của con người. Nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn nhận định: “Thơ Nôm Đường luật là một thể loại độc đáo bậc nhất của văn học Việt Nam. Một thể loại có nguồn gốc ngoại lai nhưng trong quá trình phát triển lại trở thành thể loại văn học dân tộc”. Sự độc đáo này được thể hiện rõ nhất qua việc tích hợp thành công hai bản thể trữ tình và tự sự, tạo nên một diện mạo mới cho thơ ca, khẳng định bản sắc và sức sống của văn học Việt Nam.

1.1. Hiểu đúng bản chất thơ Nôm Đường luật thế kỷ XVIII XIX

Thơ Nôm Đường luật giai đoạn này không đơn thuần là những bài thơ viết bằng chữ Nôm theo niêm luật chặt chẽ của thơ Đường. Nó là kết quả của một quá trình tiếp biến và sáng tạo, nơi các nhà thơ Việt Nam vừa kế thừa hình thức Đường luật, vừa phá cách để đưa vào đó tinh thần dân tộc. Các tác giả đã mạnh dạn sử dụng ngôn ngữ đời thường, chất liệu văn học dân gian, và các đề tài gần gũi với cuộc sống như thân phận người phụ nữ hay những thói hư tật xấu trong xã hội. Quá trình này được gọi là dân tộc hóadân chủ hóa thể loại, đưa thơ ca từ chốn cung đình, trang nghiêm về gần với hiện thực đa dạng của con người. Đây là nền tảng quan trọng cho sự phát triển của song tính trữ tình tự sự.

1.2. Giải mã khái niệm cốt lõi song tính trữ tình và tự sự

Song tính trữ tình và tự sự là sự tồn tại song song và hòa quyện của hai yếu tố trong một tác phẩm. Yếu tố tự sự là phương diện kể, thuật lại một sự kiện, một câu chuyện, một hoàn cảnh. Nó tạo ra cái sườn, cái khung cho bài thơ. Yếu tố trữ tình là phương diện bộc lộ cảm xúc, tâm trạng, suy tư của chủ thể. Nó thổi hồn, tạo ra chiều sâu và sức lay động cho câu chuyện được kể. Trong thơ Nôm Đường luật thế kỷ XVIII-XIX, hai yếu tố này không tách biệt mà thẩm thấu vào nhau. Một câu chuyện về nỗi khổ của người phụ nữ (tự sự) cũng chính là tiếng lòng xót xa, phẫn uất (trữ tình). Một lời than về thế sự (trữ tình) lại được thể hiện qua việc mô tả một cảnh thi cử nhốn nháo (tự sự).

II. Thách thức lớn khi phân tích yếu tố trữ tình và tự sự

Việc phân tích song tính trữ tình tự sự trong thơ Nôm Đường luật đặt ra nhiều thách thức cho giới nghiên cứu. Khó khăn lớn nhất nằm ở chỗ hai yếu tố này thường hòa quyện vào nhau một cách tinh vi, khó tách bạch. Thơ ca giai đoạn này không còn tuân thủ rạch ròi quy phạm "thi dĩ ngôn chí" (thơ để nói chí) hay "văn dĩ tải đạo" (văn để chở đạo). Thay vào đó, chí hướng và đạo lý được bộc lộ thông qua những câu chuyện và cảm xúc rất đời thường. Việc các nhà thơ như Nguyễn Khuyến hay Trần Tế Xương sử dụng giọng điệu trào phúng để nói lên nỗi đau thời cuộc là một minh chứng. Tiếng cười ở đây không đơn thuần là sự giễu cợt (tự sự về một đối tượng lố bịch) mà còn ẩn chứa một nỗi buồn sâu sắc, một sự bất lực của cá nhân trước thực tại (trữ tình). Thêm vào đó, sự phá vỡ cấu trúc niêm luật của thơ Đường luật truyền thống cũng là một thách thức. Các nhà thơ Việt Nam thường xen những câu lục ngôn, sử dụng ngôn ngữ khẩu ngữ, làm cho cấu trúc bài thơ trở nên linh hoạt hơn nhưng cũng phức tạp hơn trong phân tích. Việc xác định đâu là lời kể, đâu là lời than, đâu là sự miêu tả khách quan và đâu là dòng cảm xúc chủ quan đòi hỏi người đọc phải có sự nhạy cảm sâu sắc về ngôn từ và bối cảnh lịch sử, văn hóa của tác phẩm. Đây là một cuộc vật lộn giữa các phương pháp tiếp cận thi pháp học hiện đại và đặc trưng của một nền văn học trung đại Việt Nam đang trên đà chuyển biến.

2.1. Sự phá vỡ quy phạm niêm luật của thể thơ Đường luật

Thơ Đường luật truyền thống có cấu trúc và niêm luật vô cùng chặt chẽ, thường hướng đến sự trang trọng, ước lệ. Tuy nhiên, các nhà thơ Nôm Việt Nam đã chủ động phá vỡ sự cứng nhắc này. Họ xen vào các câu thơ sáu chữ (lục ngôn) hoặc tám chữ (bát ngôn) vào bài thất ngôn, sử dụng phép đối không chỉ về từ loại, thanh điệu mà còn đối lập về ý nghĩa để tạo ra hiệu ứng trào phúng, mỉa mai. Ví dụ trong thơ Hồ Xuân Hương, cấu trúc đối ngẫu của hai câu thực và hai câu luận thường được tận dụng để tạo ra những tương phản éo le, vừa kể về một cảnh ngộ (tự sự), vừa thể hiện thái độ phản kháng (trữ tình). Sự phá cách này làm cho việc phân tích dựa trên khuôn mẫu cũ trở nên bất cập.

2.2. Mối quan hệ phức tạp giữa kể chuyện và bộc lộ cảm xúc

Trong thơ Nôm Đường luật giai đoạn này, kể chuyện và bộc lộ cảm xúc không phải là hai hành động nối tiếp nhau mà thường là một. Nhà thơ không kể xong một sự việc rồi mới bày tỏ cảm xúc. Thay vào đó, cảm xúc thẩm thấu trong từng chi tiết, từng hình ảnh được kể. Trong bài "Thương vợ" của Trần Tế Xương, việc kể về cảnh bà Tú "lặn lội thân cò" vừa là một hành động tự sự (kể lại công việc của vợ), vừa là một hành động trữ tình (bày tỏ lòng thương xót, biết ơn). Ngôn ngữ thơ vì thế mang tính đa nghĩa, đòi hỏi người đọc phải giải mã đồng thời cả lớp nghĩa bề mặt (câu chuyện) và lớp nghĩa chiều sâu (tâm trạng).

III. Phương pháp nhận diện song tính qua hệ thống đề tài thơ Nôm

Một phương pháp hiệu quả để nhận diện song tính trữ tình tự sự trong thơ Nôm Đường luật là phân tích qua hệ thống đề tài. Khác với các giai đoạn trước thường tập trung vào các đề tài ước lệ, mang tính giáo huấn, thơ Nôm thế kỷ XVIII-XIX đã mở rộng biên độ phản ánh, hướng thẳng vào những vấn đề nóng bỏng của đời sống. Các đề tài như thân phận người phụ nữ, thế sự, triết lý nhân sinh được khai thác một cách trực diện và sâu sắc. Mỗi đề tài này đều là một mảnh đất màu mỡ cho sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình. Khi viết về người phụ nữ, các tác giả vừa kể lại cuộc đời long đong, lận đận của họ, vừa cất lên tiếng nói đồng cảm, xót thương và cả sự phẫn nộ trước những bất công xã hội. Khi viết về thế sự, các nhà thơ không chỉ ghi lại những cảnh chướng tai gai mắt như cảnh thi cử mục nát hay bộ mặt của bọn quan lại tham tàn, mà còn gửi gắm vào đó tâm trạng đau đớn, uất uất của một kẻ sĩ bất lực trước thời cuộc. Ngay cả khi viết về thiên nhiên, đó cũng không còn là những bức tranh thiên nhiên thuần túy mà thường là cảnh ngụ tình, nơi cảnh vật được dùng làm phương tiện để kể một câu chuyện nội tâm. Qua hệ đề tài thơ Nôm, có thể thấy rõ sự chuyển dịch từ việc mượn cảnh, mượn vật để "ngôn chí" một cách gián tiếp sang việc dùng chính câu chuyện của con người để bộc lộ cảm xúc một cách trực tiếp.

3.1. Phân tích đề tài thân phận người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương

Đề tài về thân phận người phụ nữ là minh chứng rõ nét nhất cho song tính trữ tình tự sự. Trong thơ Hồ Xuân Hương, các bài như "Bánh trôi nước" hay "Tự tình" đều xây dựng trên một câu chuyện. "Bánh trôi nước" kể về quá trình làm ra chiếc bánh, nhưng câu chuyện ấy lại là ẩn dụ cho cuộc đời "bảy nổi ba chìm" và tấm lòng son sắt của người phụ nữ. Bài thơ vừa tự sự về một đối tượng cụ thể (chiếc bánh), vừa là lời tự bạch trữ tình sâu sắc về phẩm giá và số phận. Yếu tố tự sự và trữ tình hòa quyện đến mức không thể phân chia, tạo nên sức ám ảnh lớn.

3.2. Khai thác đề tài thế sự trong thơ Nguyễn Khuyến Trần Tế Xương

Đề tài thế sự trong thơ Nguyễn KhuyếnTrần Tế Xương cũng thể hiện rõ sự kết hợp này. Bài "Vịnh khoa thi Hương" của Tú Xương là một bản tường thuật (tự sự) về cảnh trường thi nhốn nháo với "Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ /Ậm oẹ quan trường miệng thét loa". Tuy nhiên, đằng sau lời kể mang giọng điệu châm biếm ấy là một nỗi đau trữ tình lớn lao, nỗi nhục mất nước được bộc lộ ở câu kết: "Nhân tài đất Bắc nào ai đó / Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà". Lời kể khách quan đã trở thành phương tiện cho một tiếng than đầy chủ quan và đau đớn.

3.3. Đề tài thiên nhiên và triết lý nhân sinh trong thơ Nôm

Ngay cả đề tài thiên nhiên và triết lý nhân sinh cũng không nằm ngoài quy luật này. Chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến không chỉ tả cảnh mùa thu làng quê Bắc Bộ (tự sự) mà còn là không gian để nhà thơ gửi gắm nỗi cô đơn, u hoài trước cảnh nước mất nhà tan (trữ tình). Trong khi đó, thơ Nguyễn Công Trứ bàn về chí nam nhi (triết lý nhân sinh) nhưng không phải bằng những lời giáo huấn khô khan, mà thông qua việc kể lại hành trình "vào lính, ra quan" của chính mình, biến triết lý thành một câu chuyện trải nghiệm đậm chất tự sự và hào sảng.

IV. Bí quyết giải mã song tính qua lăng kính của cái tôi trữ tình

Chìa khóa để giải mã song tính trữ tình tự sự trong thơ Nôm Đường luật nằm ở việc phân tích sự vận động của cái tôi trữ tình. Nếu như trong thơ ca trung đại trước đó, cái tôi thường ẩn mình, mang tính phi ngã, đại diện cho một tư tưởng, một hệ giá trị chung, thì đến thế kỷ XVIII-XIX, cái tôi đã trỗi dậy mạnh mẽ, mang đậm dấu ấn cá nhân. Cái tôi này vừa là người kể chuyện, vừa là nhân vật chính trong câu chuyện của mình. Nó không ngần ngại phơi bày những trạng thái cảm xúc riêng tư, những khát vọng đời thường và cả những bi kịch cá nhân. Sự xuất hiện của một cái tôi đậm chất tự sự - kể lại cuộc đời mình, và đậm chất trữ tình - bộc lộ cảm xúc của mình, đã tạo ra một cuộc cách mạng trong thơ ca. Hồ Xuân Hương là một cái tôi đầy bản lĩnh, dám kể về những éo le trong tình duyên của mình để đòi quyền sống, quyền hạnh phúc. Trần Tế Xương là một cái tôi bi kịch, kể về sự thất bại trong khoa cử, về cảnh sống nghèo túng để nói lên nỗi đau của cả một thế hệ nhà Nho cuối mùa. Nguyễn Khuyến là một cái tôi u hoài, tự sự về cuộc sống ẩn dật ở quê nhà để thể hiện nỗi lòng đau đáu với vận mệnh đất nước. Phân tích sự biểu hiện của cái tôi trữ tình trong các tác phẩm giúp làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa câu chuyện được kể và cảm xúc được bộc lộ, qua đó thấu hiểu chiều sâu của tác phẩm.

4.1. Cái tôi trữ tình thế sự Tiếng nói nhà Nho trước thời cuộc

Cái tôi trữ tình thế sự là hình ảnh của những nhà Nho mang trong mình nỗi đau thời cuộc. Họ đứng ra làm nhân chứng, kể lại (tự sự) sự suy tàn của xã hội, sự đảo điên của các giá trị. Trong thơ Nguyễn Khuyến, cái tôi này hiện lên qua hình ảnh một ông lão về quê ở ẩn, quan sát và suy ngẫm về mọi thứ xung quanh, từ cảnh lụt ở Hà Nam đến hình ảnh ông tiến sĩ giấy. Mỗi câu chuyện nhỏ ông kể đều thấm đẫm một nỗi buồn lớn, một sự bất lực mang tính thời đại. Cái tôi ở đây vừa kể chuyện, vừa tự vấn, biến bài thơ thành một cuộc đối thoại nội tâm sâu sắc.

4.2. Cái tôi trữ tình đời tư Khát vọng cá nhân và thân phận

Cái tôi trữ tình đời tư là một bước đột phá lớn, thể hiện rõ nhất ở Hồ Xuân Hương. Bà là nhà thơ đầu tiên trong văn học Việt Nam dám đưa cuộc đời riêng, những khát vọng rất "phụ nữ" như tình yêu, hạnh phúc lứa đôi vào thơ một cách trực diện. Cái tôi của bà không ngần ngại kể về thân phận làm lẽ ("Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng"), về nỗi khát khao duyên phận ("Có phải duyên nhau thì thắm lại"). Việc tự sự hóa đời tư đã mang lại cho yếu tố trữ tình một sức nặng hiện thực và một sự táo bạo chưa từng có, khẳng định giá trị và ý thức cá nhân.

V. Kết quả Cách các tác gia lớn vận dụng song tính trữ tình tự sự

Kết quả nghiên cứu cho thấy các tác gia lớn của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX đã vận dụng một cách bậc thầy song tính trữ tình tự sự trong thơ Nôm Đường luật. Mỗi người lại có một phong cách riêng trong việc kết hợp hai yếu tố này, tạo nên những thành tựu nghệ thuật đặc sắc. Hồ Xuân Hương sử dụng ngôn ngữ sắc sảo, đa nghĩa và cấu trúc đối lập để kể những câu chuyện đời thường (cái quạt, quả mít, đèo Ba Dội) nhưng lại ẩn giấu bên trong những khao khát tình cảm và sự phản kháng mạnh mẽ. Giọng thơ của bà là sự hòa quyện giữa tự sự trào phúng và trữ tình táo bạo. Nguyễn Khuyến, nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, lại vận dụng song tính này một cách thâm trầm, kín đáo. Ông mượn cảnh vật làng quê để tự sự về cuộc sống, nhưng mỗi hình ảnh (ao thu, ngõ trúc, trời xanh) đều nhuốm màu tâm trạng, là một biểu hiện trữ tình của nỗi lòng u uất, nhớ nước thương đời. Trong khi đó, Trần Tế Xương lại là bậc thầy của giọng điệu tự sự - trào phúng. Ông kể về xã hội thành thị buổi giao thời một cách sống động, hài hước, nhưng đằng sau tiếng cười là những giọt nước mắt trữ tình, là bi kịch của một cá nhân tài năng nhưng sinh bất phùng thời. Sự vận dụng đa dạng này không chỉ khẳng định tài năng của các nhà thơ mà còn chứng tỏ sức biểu đạt to lớn của thể thơ Nôm Đường luật khi đã được dân tộc hóa.

5.1. Kỹ thuật trào phúng kết hợp trữ tình của Trần Tế Xương

Tú Xương thường bắt đầu bằng việc kể lại một sự việc, một cảnh tượng xã hội một cách khách quan, hài hước. Đó là yếu tố tự sự. Ví dụ trong bài "Sông Lấp", ông kể về việc con sông Vị Hoàng bị lấp đi để làm nhà, trồng ngô. Nhưng từ câu chuyện có thật đó, ông chuyển sang bộc lộ nỗi niềm nuối tiếc quá khứ, nỗi đau trước sự đổi thay của quê hương: "Vẳng nghe tiếng ếch bên tai / Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò". Yếu tố trữ tình ở cuối bài đã làm cho câu chuyện tự sự ban đầu mang một ý nghĩa sâu sắc hơn, biến nó thành biểu tượng cho sự mất mát của cả một thời đại.

5.2. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Khuyến

Nguyễn Khuyến là đỉnh cao của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Trong "Thu điếu", việc miêu tả cảnh ao thu với "nước trong veo", "sóng biếc", "lá vàng" là một hành động tự sự về không gian. Tuy nhiên, toàn bộ không gian ấy lại tĩnh lặng, đượm buồn, phản chiếu thế giới nội tâm cô quạnh của nhà thơ. Cái tĩnh của cảnh vật bên ngoài (tự sự) lại làm nổi bật cái động của tâm trạng bên trong (trữ tình). Chi tiết "Cá đâu đớp động dưới chân bèo" là một nét vẽ tự sự tinh tế nhưng lại có sức mạnh khuấy động cả không gian trữ tình của bài thơ, thể hiện nỗi niềm khắc khoải của tác giả.

VI. Tương lai nghiên cứu thơ Nôm và song tính trữ tình tự sự

Việc khám phá song tính trữ tình tự sự trong thơ Nôm Đường luật không chỉ giúp đánh giá lại một giai đoạn rực rỡ của văn học dân tộc mà còn mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới trong tương lai. Thành tựu của thế kỷ XVIII-XIX đã chứng minh rằng, sự giao thoa và tiếp biến văn hóa có thể tạo ra những giá trị nghệ thuật độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc. Đây là một bài học quý giá cho quá trình hội nhập văn hóa hiện nay. Trong tương lai, các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục đi sâu vào các phương diện cụ thể hơn như vai trò của ngôn ngữ, giọng điệu trong việc tạo nên tính song hành này. Việc áp dụng các lý thuyết thi pháp học hiện đại, tự sự học, hay phân tâm học vào việc phân tích các tác phẩm của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến sẽ giúp làm sáng tỏ hơn nữa những tầng ý nghĩa phức tạp. So sánh hiện tượng song tính này với các nền văn học khác trong khu vực cũng là một hướng đi đầy triển vọng. Cuối cùng, việc số hóa và phổ biến các tác phẩm thơ Nôm, kèm theo những phân tích chuyên sâu về đặc trưng song tính trữ tình tự sự, sẽ góp phần đưa di sản quý báu này đến gần hơn với công chúng đương đại, khẳng định vị thế và sức sống bền bỉ của văn học trung đại Việt Nam.

6.1. Khẳng định giá trị của song tính trữ tình tự sự trong văn học

Sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình là một thành tựu lớn, góp phần đưa văn học Việt Nam thoát khỏi tính ước lệ, công thức của giai đoạn trước để tiến gần hơn đến chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn sau này. Nó cho thấy khả năng phản ánh hiện thực một cách toàn diện, không chỉ ghi lại sự kiện mà còn nắm bắt được tâm hồn con người trong sự kiện đó. Giá trị này khẳng định sự trưởng thành của ý thức dân tộc và tư duy nghệ thuật, là một mắt xích quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.

6.2. Hướng nghiên cứu mới cho thơ Nôm Đường luật trong thế kỷ 21

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc quay lại nghiên cứu di sản là vô cùng cần thiết. Các hướng đi mới có thể bao gồm: nghiên cứu liên ngành giữa văn học, ngôn ngữ học và văn hóa học để giải mã các lớp mã văn hóa trong thơ Nôm; ứng dụng công nghệ thông tin để phân tích tần suất từ, cấu trúc câu, từ đó lượng hóa được mối quan hệ giữa yếu tố tự sự và trữ tình; và quan trọng nhất là đưa những phát hiện nghiên cứu vào chương trình giảng dạy phổ thông và đại học một cách sinh động, hấp dẫn để thế hệ trẻ thêm yêu quý và trân trọng vốn cổ văn hóa của dân tộc.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ ngữ văn song tính trữ tình tự sự trong thơ nôm đường luật thể kỷ xviii xix

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Thơ Nôm During lt thé ki XVII ~ XIX din mao va thành tú “Chương 2: Yêu tổ tình, tự sự trong thơ Nôm Đường lu thé ki XVI — XIX ohn tr hg đỀ ải và cái tôi trữ tỉnh, “Chương 3: Yêu tổ uữ tình, tự sự trong thơ Nôm Đường luật th kỉ XVIH — XIX phương thức th hiện. NỘI DUNG CHƯƠNG1 ‘THO NOM DUONG LUAT ‘THE Ki XVIII — XIX - DIEN MAO VA THANH TUU, L1. Điện mạo thơ Nôm Đường luật thể kỉ XVII-XIX * «Thơ Nôm Đường luật là bao hàm những bãi thơ viết bằng chữ Nom theo luật Đường hoàn chỉnh có cả những bải viết theo thơ luật Đường phá cách- những bài có chen câu ngũ ngôn,lục ngôn vào bài thơ thất ngôn. ” [48,tr 141] "Nhà nghiền cứu Lã Nhâm Thìn cho rằng : “.

diện mạo thơ Nôm Đường luật là điện mạo đường như không có ổi du thơ chập chững cũng như không có tuổi già. [49, tr 5] Từ th kỉ XII đến thé kỉ XVI, thơ Nôm Đường luật không phải là không có những thành tựu. Nhìn chung đó là năm thể kỉ phát tiển có nhiễu thành tu của thơ Nôm Đường luật. Tuy nhiên trong năm thế kỉ đó, thơ Nôm Đường luật đã qua hai chặng có những đặc điểm riêng khá rõ.

Giai đoạn Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương là đoạn đi từ thể nghiệm đến ổn định triển rực rỡ nh của thể thơ này. Giải đoạn sau Hỗ Xuân Hương là gi te sự phát tiễn cia tho Nôm Dường hụt, thành tưu không bằng trước nhưng vẫn sõ những đồng góp to lớn.39] Văn học Việt Nam thể kỉ XVIII - XIX vin gdm bai bộ phận văn học chữ Hin và văn hoe cht Nom, cả bai đều phát triển, tuy nhiễn giải đoạn này nên văn học chữ Nôm phát tiển rực rỡ hơn sau hơn một thể kỉ không có gì đặc sắc. Ngày nay nối đến thành. tựu văn học Việt Nam thể kỉ XVIHI= XIX, chủ yêu nói đến văn học chữ Nôm, mặc dù văn học chữ Hán không phải là không có những thành tựu đáng kể lên mạo cña thơ Nôm Dường luật được khởi sắc là phải kể đến các tác giả tiêu biểu của thơ Nôm ường luật giải đoạn này như.

Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chi, Nguyễn Công Trú, Nguyễn Khuyến, Trần TẾ Xương Lã Nhâm Thìn nhận xét: * Hồ Xuân Hương gần như là trường hợp duy nhất không vit với bắt cứ một ánh sắng của học thuyết tôn lo nào, không một học thuyết chính tr nào từ phía trên doi xuống, Hỗ Xuân Hương là sự gii ôa hoàn toàn 7 Khải giáo điều phong kiến.Với thơ Hồ Xuân Hương, thơ Đường luật không còn ở địa vị “đẳng cắp trên” trong hệ thẳng th loại văn học trung đại, và với nhà thơ, thể thơ Đường luật đã xa phong cách trữ tỉnh trang nghiêm cao qúy đỂ đi vào cuộc sống đồi thường.” [49,r46] Ho Xun Hương tổ cáo chế độ đa thể và nỗi đau thân phận của người phụ nữ. Bai tho “Lam fể ” của Hỗ Xuân Hương đã kích mạnh mẽ o chế độ đa thể và là tiếng nói đôi quyền sống, quyền hạnh phúc lứa đôi cho người phụ nữ Ke dip chin bang, ke lan King. CChém cha cái kiếp lấy chẳng chung "Năm thì mười họa hay chăng chớ `ột tháng đổi lần có cũng không Cổ đắm ăn sôi, xối li hẳm Ci bằng làm mướn, mướn không công, Thân này ví biết đường này nhĩ “Thả trước thôi đành ở vậy xong. (Lam lẽ- Hồ Xuân Hương) “Với Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Dường luật tiếp tục xu hướng dân tộc hóa đồng thời chuyển nhanh trên con đường dân chủ hóa nội dung và hình thức thể loi ‘Xu hung din chi héa thể thơ Đường luật là xu hướng manh mẽ nhất trong sắng tác của Hồ Xuân Hương.

Với Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Đường luật không còn địa vỉ ở đẳng cắp trên trong hệ thống thể loi văn học trung đại, và với nhà thơ, thể thơ "Đường luật đ rời xa phong cách trừ tỉnh trang nghiêm, cao quý dé di thẳng vào cuộc sống đời thường, đó là một cuộ cách tân đầy ý ngha" [49 r46] Gop phần tạo nên điện mạo thơ Nôm Đường luật thể ki XIX là Nguyễn Công. “Tr, nha the thé hiện chí nam nhỉ, ảnh nghéo.tho Nôm Nguyễn Công Trứ mang đâm dấu ấn tòi dai 1d nt, sing tie cia Nguyễn Công Trứ toàn thơ Nôm, chỉ có một bài chữ Hán là bài Tự Trào, Cách diễn đạt của Nguyễn Công Trứ trong thơ 'Nôm bình dị, mộc mạc, ời thơ gần gũi với người dân, nhiề bải thơ mang dáng vóc của bài ca dao, tục nữ Một lưng một vốc kém chỉ mồ, (Cho biết chanh chua khế cũng chua "Đã chắc bữa trưa chữa bữa tôi, Mà tham con giếc tiếc con rô. ‘Trim điều đồ tội cho nhà oán, Nhiều si không ai đồng cửa chùa Khó bó thôn còn nói khéo, ai có quấy vẫy nên hồ (Trồ Đời - Nguyễn Công Trừ) Đến giai đoạn nữa thể kỉ XIX đất nước có những biến động lớn, thực din Pháp bắt lầu xâm lược nước ta Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ yêu nước chống. Pháp, người có tắm gương sáng về lòng yêu nước và trách nhiệm của người cằm bút rong ý thức sảng tác của mình “Chờ bao nhiêu đạo thuyền không Khim ‘Bim miy thing gian bút chẳng tà (Đương Từ- Hà Mậu) Những bai tho Nôm của Nguyễn Đình Chiếu phản ánh kịp thời những sự kiến lớn của lch sử dân tộc, thể hiện tắm long yêu nước của các nghĩa sĨ, và người ning din yêu nước Tỉnh thần yêu nước, chống Pháp của Nguyễn Đình Chiễu vẫn còn sắng mãi trong lông người Nam Bộ ông mãi là ‘Nei sao sing trén bẩu trời Nam Bộ” Một gương mặt tiêu biểu tạo nên diện mạo thơ Nôm Đường luật thập kỉ cuối củng của thể kỉ XIX là Nguyễn Khuyến ~ Thơ Nguyễn Khuyến có sự kết hợp gia trào phúng và trữ tình tạo nên những vẫn thơ mang diện mạo riêng: "Đã bẫy lâu nay, bắc tối nhà Trẻ thời đi vắng, chợ thôi xa ‘Ao stu nue ea, kon chai cá ‘Von rng ri thưa, Khó đuổi gà Cải chữa ra hoa, cả mới nụ Bầu vừa rụng rồn, mướp đương hoa Đầu tò tiếp khách, tu không có Đắc đến chơi đây ta với ta (Bạn đến chơi nhà = Nguyễn Khuyn) “Thơ Nôm Nguyễn Khuyến để lại ân tượng sâu sắc, là nhà thơ của làng mạc và dân quê và là nhà thơ cổ én của mùa thu làng cảnh Việt Nam.

“Tai ning của "Nguyễn Khuyến là ở chỗ, ông chiếm lĩnh được thơ Đường luật, chiếm lĩnh được ‘quan niệm “ trung hữu họa", chiếm lĩnh được khả năng diễn dat dén dinh cao trong khả năng gắn bó với quê hương đất nước 12,1283) Trần Tế Xươn sáng tác vào những thập, lên cuối thế ky XIX, là nhà thơ tiêu biểu trong dòng tho Nom Đường luật giai đoạn này. Ông tiếp tục xu hướng trào. phúng và trừ tình như Nguyễn Khuyến, trào phúng của Nguyễn Khuyến là trào phúng ở nông thôn, nhưng với Tả Xương là xã hội thực đần phong kiến ở thành thị "Nhà thơ Tả Xương không nhằm vào mục đích mgôn ch, đhuật hoài mà thể hiện sự túng dung tự tại của một nhà Nho trước một xã hội đảo điên và thể hiện cái ngông nghênh tự mãn của một con người thị dân: phd Hang Nâu có phống sành Mặt thời lơ láo, mắt thời xanh it râu inh vo, con bu nd (Quite mit khinh ds, ei b6 anh Bài bạc kiệu cỡ cao nhất xứ Rượu ch trai gái đủ tam khoanh, “Thế mà vẫn nghỉ rằng ta giồi “Cứ việc ăn chơi, chẳng học hành. (Tự cười mình- Trần TẾ Nương) “Tú Xương có tỉnh thin dân tộc rất sâu sắc.con người của Tú Xương là con người ưu thồi mẫn thé, mang tâm trang u ất của một kẻ mắt nước và hoa sen trong tim hồn luôn luôn bị vẫy bùn lên.

Trần tre, văn trở lình hồn cùng thân thé” I9.0246] Thơ bắt nguồn từ chính cuộc sống, các nhà thơ không chỉ bằng lông với việc «ling chi Hin sing tác mã ích cực sử dụng chữ Nôm, đồng ngôn ngữdân tộc để sáng tác, do đó bộ phân văn học chữ Nôm ph triển mạnh mẽ. Việc dùng char Nm cũng là biểu hiện lòng tự hào về dân tộc, để ao tiếng nói của dân tộc. Trong thể thơ [Nom Đường luật th kỉ XVII — XIX chúng ta gặp những đề tài phổ biển của văn "học giai đoạn trước, đó là thể tài ịnh sử và vịnh thiên nhiên, nhưng giai đoạn này sắc nhà thơ không còn ngụ ý của những bài học về đạo đúc. Nhà thơ viết về thiên nhiên là để nối lên xúc cảm của mình trước những đối tượng ấy, đồng thời qua đó bộc lộ nhận thức của mình về những vẫn đề của cuộc sống.

ĐỀ tải cơ bản rong thơ 10 'Nôm Đường luật giả đoạn này chủ yêu là những vẫn để thiết yêu của cuộc sống, sắc nhà thơ viết vỀ chiến tranh phong kiến, những tải họa của nó như trong thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Dinh Chiễu hay các nhà thơ viết về sự thối nát của giải cấp pho kí thống tị, về cuộc sống khổ cực của lần dân ong thơ Nguyễn Khuyến, Trần “Xương. Thơ Nôm Dưỡng luật đã bắt đầu thoát khôi loại tho. Thi “ngôn chí. đễ quay trở lại phản h hiện thực đời sống đa dạng của con người.

Do, thay đổi cảm quan thơ, nên mặc di sing tae bing thể thơ Đường luật, một thể thơ vốn có nhiễu quy phạm chất chẽ, sẵn với quan niệm của nhà Nho, nhưng các nhà tho vit tho Nom Đường luật ở Việt nam kể, đưa thơ về gần với cuộc sống hơn. Đây cũng là quá tình dân tốc hóa và dân chủ hóa thể thơ Đường luật ở Việt Nam. Thành tựu của thơ Việt Nam ở thời kỳ này có những đồng gớp tích cực của các nhà thơ Nôm Đường luật như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trữ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương “Chờ bao nhiều đạo thuyền không khẩm ‘am mấy thẳng gian bút chẳng tà (Dương Từ- Hà Mậu, Nguyễn Đình Chiều) TH câu thơ mang đến cho \ một quan niện văn chương thời tung đại, đồ là quan niệm “săn di tai đạo”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ