Chương 1 Đầu én văn hóa trong truyện ngắn Quế Hương nhìn từ ‘quan niệm nghệ thuật vỀ con người và thểg ¡ nhân 1. Quan niệm nghệ thuật vỀ con người 1 “Hành tình sắng và sắng tạo “Quê Hương tên thật là Hoàng Thị Thương sinh năm 1950 tại Hu. Chữ Qué trong bút danh xuất phát ừ tên gọi ở nhà: QuẾ. Tốt nghiệp Đại học Văn khoa và về giảng dạy ở Hội An, sau chuyển về sinh sống tại Đà Nẵng.
Chính vì đi nhiều nơi nên tong truyện ngắn của ch chứa đựng dầu ấn văn hóa của nhiều vũng đất khác nhau, tuy nhiền văn hóa Huế nơi chỉ được sinh ra và sống suỗt thời niên thiểu vẫn tõ nết nhất Trong lời đề từ về tip Hud Minh của Ng. Vinh Quyền, Trân Kiêm Đoàn đã viế: "Huế, nguyên (hủy chỉ là một cái tên, nhưng là một c lên định mệnh, Huế, dẫu cho khơi nguồn từ ngữ âm g là Hóa, là Huê, là Quê, la Qué la gi đi nữa theo các nhà Hu học thi vin mang trong mình “chủng tử” của sư ra đi vì ‘én ngin ma tinh di” (20, tr 5] Chính diều này đã gợi cho ôi suy nghĩvề từ Quê trong bút danh của chí, phải chăng ngay cách đặt bút danh cũng đã thể hiện được nỗi niềm tỉnh cảm kín đáo mã chị dành cho cổ đô. “Cải bóng nhỏ Yyguộc, ánh mắt sâu, lãng lẽ nhìn lung qua khung cửa. Tôi phác thảo về Thương như thể.
Tuổi áo trắng không sôi nỗi. Thương không có một thuở “con yêu bánh nộm của Huế, Sâu mi hién, Kin đáo Thật thả mã khôn ngoan. Tuổi trẻ, Thuong minh mi i, it at, nhỏ nhẹ mà tự tin.” [57] Cô nữ sinh văn. Khoa với "dáng buồn như liễu, diệu gầy như mai” ấy vi đau ôm tiền miễn đến mức, phải nghỉ dạy, phải từ bò một nghề duy nhất mà mình biết.
Nhưng bằng sự tha thiết với cuộc sống và như chỉ nồi viết giúp chỉ bước ra khôi khung cửa hợp của đời "mình, chị khối nghiệp viết văn từ năm 1990 với truyện ngắn đầu tay Bd? chin bide Ahác. "Đôi chân bit khóc là ấn tượng sâu sắc về bản chân vtvã, lặn ội khắp nơi, tảo tần nuôi con của người mẹ mà chỉ vô cùng kính yêu, cũng là đôi chin in di sb phận của mẹ và cả của chỉ “Quế Hương lớn lên bằng tình thương và sự che chở của mẹ, bởi bồ chị - một thủ bóng đá mất ớm. Chị sống trọn thời con gái trong cái nghèo âm ¡ như bao. gia định ở Huế cùng mẹ, kế phụ và em gái.
ảnh của Quế Hương được lặp đi lập lại rất nỉ u trong văn chương của chị "quyết liệt dữ dẫn trộn với da cam. gò xanh xao nhưng rất dễ thương” [12, tr. Lớn lên, chị lấy chồng, một thầy. giáo dạy toán cũng nhỏ nhắn như chị, rồi sinh đôi bai thằng, mười mấy năm sau sinh thêm một thẳng nữa, thể là nhà toàn dan ông, mình chị cô don.
Sống trong một căn nhà chỉ toàn đân ông, cho nên những công việc không tên đã ngôn hết phần lớn thời gian của chỉ, chỉ còn lại chút ít dành cho sự thôn thúc lòng mình, tuy nhiên, thời gian í ói đồ chính là thời gian mà chị cảm thấy được sống đúng nghĩa, với những khắt khao, hòa điệu lâm hồn gi gắm vào từng con chữ. "Như Quế Hương từng tâm sự “Viết đối với tôi là sống, chân thành, da điết, vật vã Mà cũng như tắt cả mọi người, tôi cần đồng tiền chính đáng để sống, Đồng tiền viết văn khổ nhọc, lương thiện và vinh dự” [46]. Một người phụ nữ phải bó hẹp đời "mình trong bốn vách tường,thì quả thật viết giúp Quế Hương si cánh bay vào bằu trời rồng lớn của văn học, là sống một cách chân thành da dit, là kiểm sống một cách khó nhọc nhưng vinh dụ, là cách chị hái quả ngọt của đời mình. Người phụ nữ ấy vẫn lặng lề sống, lãng lẽ viết như thể, như vốn tâm hồn tính lạng của mình, không muốn bon chen với đời.
Bằng tắt cả sự tân tuy với nghề văn, chị cống hiến cho văn học Việt Nam đương đại những bông hoa thằm lặng tỏa "hương như chính con người chỉ Mỗi nhà văn khi bước vào làng văn đều xuất phát từ một hoàn cảnh khác nhau, riêng Quế Hương bước vào làng văn với hoàn cảnh thật đặc biệt: “Rời bỏ một nghề duy nhất mình biết, đeo duổi ới 18 năm thì còn biết lầm gì? Thể giới bỗng họp lại ong bốn bức tường, việc nhà, đau ôm, khó khăn. Có lẫn tôi buônbã ngắm chân mẹ, chân mình, tế là Đôi chân bit khóc ra đời” [46]- Chí vit khá đễu tay, lần lượt cho ra đời các ác phẩm, ~ Đôi chân biết khóc, Tập truyện, 1994 ~ Quán Búp Bê, tập truyện, 1996 ~ Cô Miu trong nhà, truyện vừa, 1997 2 ~ Thự gửi thời giạn tập yên, 1898 ~ Bí Đỏ và. truyện vừa, 2001 ~ Đảm cưới cỏ, tập truyện, 2004. ~ 37ruyện ngn của Quế Hương tập truyện 200% ~ Chiếc vẻ vào công Thiên đường xanh, tập truyện, 2009.
~ Nabi chơi với bụi, thơ, 2009 - Đa hon không ga và sơ cu không rọ môm ấp tuyền, 2010 Bằng tắt cả những nỗ lực miệt mài, đáng trần trọng, Quê Hương đã xác lập vỉ trì của mình trên văn đân Việt Nam một cách thuyết phục nhất giữa bao nhà văn, Trong ai mươi mẫy năm cằm bút, với hành trình sing tạo miệt mãi không ngừng của mình, Quế Hương đạt rất nhiều giải thưởng khác nhau như là động lực, Tà sự ủng hộ tỉnh thần và cũng là sự khẳng định được thừa nhận đổi với đời văn của chỉ. Các giải thưởng như: Tặng thưởng cũa Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1997, Giải thưởng truyện ngắn tạp chí Sông Hương năm 1993, báo Tiền Phong năm 1995, Tap chỉ Kiến Thức ngày nay năm 1999, Tạp chí Văn Nghệ Quân Dội năm 1996, 2006 Giả nhất và giải nhì sáng tác văn học cho trẻ em năm 1996-1997, 20002001, Giải nhất cuộc thì viết truyện ngắn cho thanh niên, học sinh, sinh viên 2004 Không chỉ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam mà Quế Hương còn là hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam khi có một số kịch bản phim truyện được chuyển th từ các truyện ngắn như #ức tranh thiếu nữ áo lục, Thưgu ‘hii gian, Câu hát tìm nha, .Mật cuộc đua, Phố Hoài: rong đỏ trong đó Thư gửi thời gian là kịch bản đạt giải nhỉ, không có giải nhất của cuộc thị sáng tác kịch bản vả truyện phim toàn quốc. nm 1996; kich bin Cau hat tim mhau, chuyển thê từ truyện ngắn cùng tên của chị, doạtgiải nhỉ, không có giải nhất cuộ thi sáng tác kịch bản sản khẩu và phim truyện truyền hình của Đài phát thanh và tuyển hình Hà Nội năm 1998, Và Qu Hương cũng sẽ không viết kịch bản nữa để ở lại với truyện ngắn bởi theo ch: “Điền ảnh khai thác nhà văn ở khía cạnh biên kịch chữ không cần văn chương. Với tôi, văn học và điện ảnh cần nhau nhưng khó đồng hành.
Nhà văn đem đến cho điện ảnh chiều sâu và sự mênh mông của ý tưởng, sự phong phú của những chỉ tế đất giá, lời hoại hay. nhưng với yêu cầu phải cụ thể hóa tắt cả. Cụ thể mãi e rắng không l3 tốt với người viết văn. Tôi không nghĩ rằng nhà văn trẻ bây giờ khôn viết văn được, nữa mới quay sang vi ết kịch bản phim, kịch bản sân khất Với tôi, viết cũng vô thường như con người hay cuộc đ hi ay khi đỡ, hi được khi không.
Khi mệt "mồi, bế tắc người ta có thể chuyển hướng để thử sức ở một lĩnh vục síng tác mới hoặc đồng lạ. rồi bước tiếp” [] Sự sáng tạo miệt mài, không ngừng nhị, vượt lên nỗi cô đơn, bệnh tật “Quế Hương với một gia tài tác phẩm và giải thưởng như thể, quả là niễm mơ ớc và động lục cho những ai yêu văn chương và muốn buớc vào nghề văn. Điễu đó quả ding quý, và đáng quý hơn nữa là vẻ đẹp đn từ bút pháp văn chương của chỉ, Văn (Qué Hương cũng giống như con ngư của chị, nh tế, giản dị, sắc sảo và dịu dàng, Một tâm hồn được nuôi dưỡng bằng vẻ sáng đẹp của văn chương ấy thật khó để tìm. ra sự gay gắt, quyết liệt trong giọng văn của chị.
Chỉ riêng truyện ngắn Một cuộc đua là giọng văn của chị khác hẳn, dịu dàng nhưng với tinh thin bọc thép, đốp chát, quyết li Nhung 46 là một "thế giới hải hòa, hài hòa ngay cả từ sự đổ vỡ. Không số bất hạnh nào không có lối thoát. Không có nỗi buỗn nào không thể cảm thông [Nhu dòng Hương, như nhà vườn, như điệu Nam ai Nam bình, như tiếng da thưa của "người con gái Hu. bảng lãng trong rất nhiều sing tác của chỉ ” [12 tr6j thể giới truyện ngắn Quế Hương là một th giới hài òa và thắm đươm màu sắc Huễ Từ truyện ngắn đầu tay Đđi chân biắt khác đến tập truyện Đón hon không gai vã con cầu klông rợ mãm là một hành trình tâm tình, Một hành tình tấu nặng nỗi buồn nhưng chất chứa nhiễu hy vọng.
Giữa xô bồ cuộc sống hôm nay, nỗi buồn số khi trở thành xa xi hay mắt giá, để giới văn chương của nỗi bun có thé thang, hoặc giúp ta lấy lại thăng bing? Quế Hương là nha văn đồng hành củng nỗi buồn, truyền dẫn cái đợp nhân văn của cuộc sông, khiến mỗi trang sách lấp kinh sắc màu ấm áp của sự đồng cảm, của nh người. Quan niệm nghệ thuật Mỗi nhà văn khi bước vào làng văn trước điều kiện, hoàn cảnh sống, những nh hướng khác nhau từ thời thơ ấu, ái nhìn khác nhau về cuộc đời, con người, đa hình thành nên ở mỗi nhà văn một quan niệm nghệ thuật khác nhau Con người là rung tâm của văn học, là đối tượng chủ yếu mà các nhà văn, nhà thơ khao khát hướng đến. Quan niệm nghệ thuật về con người là khái "bản nhằm thể hiện khả ing khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miều tả, thể hiện con người của người nghệ sĩ nói riêng và thời đại văn học nói chung. Gi su Trin Dinh Sit cho rằng “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tằm.
hiểu biết, tằm đánh giá, tằm trí tuệ, tằm nhìn, tằm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình”. Nghĩa li, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ đi vào phân tích, mổ xé đối tượng con người được thể hiện thành các "nguyên ắc, phương tiện, biện pháp trong các tác phẩm văn học, từ đó, thấy được giá tị và chiều sâu tấết lí của tác phẩm.