CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Khái quát về bộ Dơi (Chiroptera) Trong lớp thú, bộ Dơi (Chiroptera) có thành phần loài đa dạng và phong phú thứ hai (chỉ sau bộ Gặm nhấm - Rodentia)[49]. Cho đến nay, đã có hơn 1.300 loài dơi, thuộc 203 giống và 18 họ được phát hiện trên thế giới [34], [53]. Trong thành phần loài thú hiện biết ở Việt Nam, bộ Dơi đa dạng và phong phú nhất [2], [60].
Dơi có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái [45]. Lược sử nghiên cứu dơi ở Việt Nam Dẫn liệu đầu tiên về dơi ở Việt Nam được công bố bởi Peters (1869) [51]. Sau đó, có một số ghi nhận về dơi ở Việt Nam từ kết quả điều tra chung về thú và động vật (Van Peenen 1997) [56 ]. Cho tới năm 1994, đã có 65 loài dơi thuộc 25 giống, 6 họ được ghi nhận tại Việt Nam [1].
Đó là kết quả tổng hợp từ những kết quả điều tra chung về khu hệ động vật ở một số khu vực và chưa có kết quả nghiên cứu riêng về dơi [10]. Từ năm 1997 đến nay, công tác nghiên cứu dơi đã được quan tâm hơn trước. Một số chuyên gia từ các nước như Anh, Đan Mạch, Hoa Kỳ, v. đã điều tra dơi ở một số vườn quốc gia của Việt Nam [40].
Năm 2000, thành phần loài dơi ghi nhận được ở Việt Nam bao gồm 88 loài thuộc 25 giống và 7 họ [5]. Năm 2005, thành phần loài dơi ghi nhận được ở Việt Nam bao gồm 107 loài thuộc 31 giống, 7 họ [6]. Năm 2009 thành phần loài dơi ghi nhận ở Việt Nam là 113 loài dơi thuộc 33 giống, 7 họ [2]. Cho đến nay, thành phần loài dơi hiện biết ở Việt Nam bao gồm 120 loài thuộc 38 giống, 8 họ, 2 phân bộ (Vũ Đình Thống và Csorba, tài liệu chưa công bố).
Đáng chú ý, thành phần loài dơi đã có nhiều thay đổi trong suốt 20 năm qua; trong đó, 3 c nhiều loài có vị trí phân loại bị thay đổi, nhiều loài mới ghi nhận cho khu hệ dơi Việt Nam và nhiều loài mới cho khoa học được phát hiện qua điều tra thực địa và phân loại bộ mẫu vật trong các bảo tàng [60], [62], [63], [64]. Có thể nhận thấy rằng: trong số những công trình đã công bố về khu hệ dơi của Việt Nam, hầu hết kết quả thu được từ phân tích đặc điểm hình thái phân loại [40], [24], [43]. Năm 2007, một loài mới cho khoa học (Kerivoura titania) được phát hiện ở Việt Nam [19]. Năm 2008, loài mới cho khoa học (Murina harpioloides) được phát hiện ở Việt Nam [43].
Cũng trong năm 2008, một loài dơi mới khác cho khoa học (Myotis phanluongi) được phát hiện ở Việt Nam [24]. Năm 2009, một loài dơi mới cho khoa học (Murina eleryi) được phát hiện ở Việt Nam [38]. Năm 2010, thành phần loài dơi ở Vườn Quốc Gia Côn Đảo (15 loài thuộc 7 giống và 6 họ) và Bái Tử Long (17 loài 7 giống và 5 họ) đã được ghi nhận trong kết quả điều tra của Vũ Đình Thống và những người khác[13]. Năm 2011, một kết quả tổng hợp về tính đa dạng của các loài dơi ở Vườn Quốc gia Côn Đảo, bao gồm 16 loài thuộc 6 họ đã được công bố bởi Đào Nhân Lợi và những người khác [33].
Năm 2012, một phân loài dơi mới cho khoa học (Hipposideros alongensis alongensis) và vị trí phân loại của loài Dơi nếp mũi hạ long đã được công bố bởi Vũ Đình Thống và những người khác [63]. Năm 2013, Nguyen Truong Son và những người khác. Công bố một loài dơi mới Myotis indochinensis cho khoa, phát hiện được ở Việt Nam [47]. Năm 2015, một số loài mới cho khoa học đã được phát hiện ở Việt Nam Murina lorelieae ngoclinhensis được công bố bởi Vuong Tan Tu và những người khác [69]; Nguyen Truong Son và những người khác, công bố một loài dơi mới Murina kontumemsis cho khoa học[48]; đồng thời, một số loài đã được 4 c ghi nhận ở Việt Nam trước đây nhưng vị trí phân loại đã thay đổi (Vũ Đình Thống và Csorba – tài liệu chưa công bố).
Khái quát về phân loại, nghiên cứu đặc điểm sinh thái và tiếng kêu siêu âm của dơi ở Việt Nam Cho tới nay, đã có 120 loài dơi thuộc 38 giống, 8 họ được ghi nhận ở Việt Nam [43]; Vũ Đình Thống và Csorba (tài liệu chưa công bố). Trong đó, có những ghi nhận về một giống (Nyctalus) và 1 loài (Nyctalus cf. noctula) chưa đủ cơ sở khoa học [43]. Mặt khác, nhiều loài dơi đã được ghi nhận trong những tài liệu công bố trước đây nhưng không cung cấp thông tin chi tiết và nguồn mẫu vật.
Một số loài hiện được đánh giá là tổ hợp loài và cần nghiên cứu chi tiết với sự kết hợp tổng thể dẫn liệu về hình thái, tiếng kêu siêu âm và sinh học phân tử để khẳng định vị trí phân loại của chúng[44], [60]. Trong đó, đáng kể đến là nhiều loài thuộc các giống: Cynopterus, Hipposideros, Rhinolophus, Harpiacephalus, Myotis, Pipistrellus, Hypsugo, Ia, Miniopterus và Tadarida. Khi giải quyết được những vấn đề còn tồn tại về vị trí phân loại của các loài thuộc những giống nêu trên, thành phần loài dơi ở Việt Nam sẽ thay đổi đáng kể. Tình hình nghiên cứu động vật hoang dã ở Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm – Hội An 1.
Tình hình nghiên cứu dơi ở Cù Lao Chàm Trước khi nghiên cứu này được thực hiện, Kuznetsov (2000) [45] là tài liệu duy nhất đã công bố có ghi nhận về dơi ở quần đảo Cù Lao Chàm. Trong tài liệu đó, tác giả Kuznetsov ghi nhận 5 loài dơi (Hipposideros armiger, H. larvatus, Pipistrellus ceylonicus và P. javanucus), nhưng không cung cấp mã số mẫu hoặc nơi bảo quản mẫu vật.
Do vậy, không có thông tin về nguồn mẫu dơi thu được ở Cù Lao Chàm trước đây để tác giả tham khảo. Mặt khác, vị trí phân loại của các loài H. larvatus và một số loài 5 c thuộc giống Pipistrellus đang có sự thay đổi trong những năm gần đây. Vu Dinh Thong (2011) [60] xác định những ghi nhận trước đây về loài H.
bicolor ở Việt Nam cần được quan tâm nghiên cứu kỹ hơn trong thời gian tới do hai loài H. bicolor và loài H. pomona có đặc điểm hình thái tương tự nhau. Trong số 2 loài này, H.
pomona phân bố rộng và thường gặp ở Việt Nam (IUCN - Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên quốc tế, [60]. Tình hình nghiên cứu các loài động vật khác trên cạn ở Cù Lao Chàm Quần đảo Cù Lao Chàm có 8 Hòn đảo, nhưng hầu hết những công trình nghiên cứu đa dạng sinh học nói chung và động vật trên cạn nói riêng chủ yếu được điều tra nghiên cứu ở Hòn Lao. Nên kết quả thu được còn rất hạn chế. Trong đó, đáng kể đến là những công trình nghiên cứu dưới đây: Năm 1998, một số chuyên gia thuộc Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga đã tổ chức điều tra nhanh về đa dạng sinh học tại các đảo gần bờ của Việt Nam; trong đó, có quần đảo Cù Lao Chàm.
Kết quả điều tra đã ghi nhận được 7 loài thằn lằn và 1 loài rắn [3]. Năm 2007, các chuyên gia thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành khảo sát tại quần đảo Cù Lao Chàm và ghi nhận được 12 loài thú, 13 loài chim và 5 loài ếch nhái [tài liệu chưa công bố của Ban quản lý KBTB Cù Lao Chàm]. Năm 2008, khi xây dựng Hồ sơ thành lập Khu Dự trữ Sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An (UBND tỉnh Quảng Nam 2008), Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam đã thông báo ở quần đảo Cù Lao Chàm có 12 loài thú, 13 loài chim, 130 loài bò sát và 5 loài ếch nhái [15]. Năm 2013, Võ Tấn Phong, Lê Đình Thủy và Đinh Thị Phương Anh tiến hành điều tra bước đầu về khu hệ chim ở quần đảo Cù Lao Chàm và ghi nhận được 52 loài [7].
6 c Từ năm 2011 đến 2014, Phan Thị Hoa đã tiến hành điều tra nghiên cứu hệ lưỡng cư, bò sát ở quần đảo Cù Lao Chàm và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sơn Trà. Kết quả điều tra ghi nhận được 11 loài lưỡng cư và 35 loài bò sát ở Khu Dự trữ Sinh quyển Cù Lao Chàm [3]. Kết quả tổng hợp đó cho thấy: khu hệ động vật rừng của quần đảo Cù Lao Chàm không phong phú và đa dạng như ở các hệ sinh thái rừng trong nội địa; nhưng với tính chất là hệ sinh thái rừng hải đảo và diện tích rừng không lớn thì số loài ghi nhận bước đầu có ý nghĩa khoa học và giá trị bảo tồn cao. Đồng thời, Cù Lao Chàm cần có những nghiên cứu tiếp theo để đánh giá đầy đủ hơn về tính đa dạng loài động vật hoang dã trên cạn.
Những kết quả nghiên cứu nêu trên mới chỉ ghi nhận được một số loài động vật có xương sống thuộc các lớp Lưỡng cư, Bò sát, Chim, Thú. Có thể nhận thấy rằng, khu hệ động vật của quần đảo Cù Lao Chàm cần được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn trong thời gian tới. Đặc điểm tự nhiên và dân sinh kinh tế ở Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm 1. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý – Địa hình Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cù Lao Chàm - Hội An được UNESCO công nhận năm 2009.
Quần đảo Cù Lao Chàm nằm cách thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam khoảng 19 km về phía Đông, tọa độ địa lý: 15°52′30′′- 16°00′00′′N; 108°24′30′′-108°44′30′′E. Quần đảo Cù Lao Chàm bao gồm 8 đảo với tổng diện tích khoảng 2. Trong đó đảo lớn nhất là Hòn Lao với diện tích 1.317 ha và là nơi có đỉnh núi cao nhất (571m). Đây cũng là đảo duy nhất trong quần đảo đang có khoảng 3.000 dân cư sinh sống.
Cụm đảo chủ yếu là đồi núi thấp, hầu hết các đảo nhỏ đều có hình chóp cụt. Độ cao so với mực nước biển từ 70- 200m. Đảo Hòn Lao có một dãy núi chính xếp theo hình cánh cung từ Tây Bắc 7 c xuống Đông Nam, độ cao từ 187 m (Đỉnh Tục Cả) đến 517 m chia Hòn Lao thành 2 sườn có độ dốc khác nhau + Sườn Đông có độ dốc lớn, đá tảng bao quanh chân núi hiểm trở, không có bãi bồi ven biển. + Sườn Tây dốc thoải ít đá tảng, có các bãi bồi ven biển như Bãi Bấc, Bãi Ông, Bãi Làng, Bãi Xếp, Bãi Chồng, Bãi Bìm và Bãi Hương [3].
Khí hậu và thủy văn Khí hậu Quần đảo Cù Lao Chàm có khí hậu hải dương điều hòa, ảnh hưởng bởi khí hậu nhiệt đới gió mùa. Gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 6 và đi cùng là nhiệt độ cao của mùa hè.