CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ CHI Anemone 1. Thực vật học - Vị trí phân loại Chi Anemone thuộc họ Hoàng Liên (Ranunculaceae), bộ Hoàng Liên (Ranunculales), lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) [2], [3] - Đặc điểm thực vật Cây thảo, sống nhiều năm, gốc thành củ, có thân rễ hoặc mọc thành bụi. Lá mọc so le, bị chia cắt sâu nhiều hay ít.
Hoa đều, đơn độc hay thường thành tán có một bao chung gồm 3 lá chét. Đài dạng cánh, có màu trắng, vàng, đỏ hoặc lam, 5-10 phiến; tràng không có; nhị nhiều, lá noãn có vòi nhụy. Quả bế, đơn hạt, rời, tập hợp thành đầu. [3] - Phân bố Phân bố chủ yếu ở miền bắc Ấn Độ, Nepal, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Mỹ… [13,30]; chi Anemone có khoảng 120-150 loài [4,27,11], trong đó đã phát hiện ở Trung Quốc khoảng 50 loài.
Chi Anemone hay Phong quỳ ở Việt Nam, xuất hiện nhiều ở các tỉnh vùng núi phía Bắc như: Yên Bái, Lai Châu, Hà Giang và vùng núi cao miền trung [1], [2], [3]. Việt Nam có 05 loài là A. sumatrana, trong đó có 02 loài được nghiên cứu nhiều là A. Thành phần hóa học Thành phần hóa học chính trong các loài thuộc chi Anemone là saponin và flavonoid trong rễ và lá của các loài như Anemone tomentosa, Anemone rivularis, Anemone altaica, Anemone amurensis, Anemone anhuiensis, Anemone begoniifolia, Anemone coronaria, Anemone flaccida var.
hofengensis, Anemone hupehensis, Anemone raddeana, Anemone taipaiensis. Ngoài ra trong các loài Anemone còn chứa diterpenoid glycosid, coumarin, một số acid béo [7]. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sơ lược các hợp chất được tách ra từ chi Anemone Flavonoid trong chi Anemone Quercetin-7-O-β-D-glucopyranoside Astragalin Hình 1.1: Một số Flavonoid 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Saponin chính trên chi Anemone Anemone amurensis (Korsh.2: Một số saponin tách ra từ Anemone amurensis (Korsh.) Kom Anemone anhuiensis Y.3: Một số saponin tách ra từ Anemone anhuiensis Y. YE 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Anemone begoniifolia H.4: Một số saponin tách ra từ Anemone begoniifolia H.
& Vaniot Anemone coronaria L. [23] 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.5 : Một số saponin tách ra từ Anemone coronaria L. Anemone hupehensis LEM.) BOWLES et STEARN [17,29,34] Hình 1.6: Một số saponin tách ra từ Anemone hupehensis LEM.) BOWLES et STEARN Anemone raddeana Regel (Rununculaceae) [21,18] Hình 1.7: Một số saponin tách ra từ Anemone raddeana Regel 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Anemone rivularis var. flore-minore Maxim.8: Một số saponin tách ra từ Anemone rivularis var.
flore-minore Maxim. Anemone tomentosa (Maxim.9: Một số saponin tách ra từ Anemone tomentosa (Maxim.Pei 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.10: Một số saponin tách ra từ Anemone tomentosa (Maxim. Tác dụng sinh học và công dụng 1. Công dụng trong dân gian Cây phong quỳ được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian để chữa các bệnh về tim (phối hợp với các thuốc khác), điều trị viêm họng, sưng amydal, viêm gan, viêm túi mật, đau dạ dày, lỵ, thiên đầu thống, bế kinh, đái ra máu, rắn cắn, đau răng, phong thấp đau nhức, đòn ngã và giải độc ô đầu.
Tác dụng sinh học Các saponin nhóm triterpenoid là thành phần chính trong rễ của chi này có tiềm năng cao trong kháng u, kháng khuẩn, chống oxi hóa, chống viêm… [9], [28], [35] Trong y học dân gian Trung Quốc, hơn 10 loài đã được nhắc đến và sử dụng. Ví dụ: trong dược điển Trung Quốc, thân rễ của A. raddeana được dùng để điều trị bệnh thấp khớp và đau thần kinh [26]; A. rivularis được sử dụng để điều trị bệnh viêm gan, viêm cơ, đau khớp, phù nề… [30]; rễ của A.
tomentosa được người dân Trung Quốc dùng điều trị bệnh lỵ, sốt rét, suy dinh dưỡng trẻ em.Ở một số nước Châu Á thì A. japonica dùng chữa bệnh về tim (phối hợp với thuốc khác), A. rivullaris để điều trị viêm họng, sưng amydal, viêm gan, viêm túi mật, đau dạ dày, lỵ, thiên đầu thống, bế kinh, đái ra máu, rắn cắn, đau răng, phong thấp đau nhức, đòn ngã và giải độc ô đầu [3]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
TỔNG QUAN VỀ CÂY PHONG QUỲ SA PA (Anemone chapaensis Gagnep.) Đến nay mới thấy các tài liệu mô tả về hình thái thực vật của Phong quỳ Sa Pa A., và một nghiên cứu chi tiết về đặc điểm thực vật (vi phẫu, soi bột), và một nghiên cứu về thành phần hóa học phần trên mặt đất của cây. Đặc điểm thực vật và phân bố 1. Đặc điểm thực vật Vào năm 1929, Phong quỳ Sa Pa Anemone chapaensis Gagnep. được nhà thực vật Pháp Gagnepain mô tả lần đầu tiên [11].
Cây Phong quỳ Sa Pa được mô tả là cây thảo, thân 2-4cm mang lá chụm ở đất. Lá có cuống dài 10-15cm, mềm, có lông rải rác; phiến hình tim có 3 thùy, không lông, bìa có răng tròn. Trục mang hoa cao hơn 20cm; lá hoa 6-7, dài 2-3,5cm; lá đài 5, đầu tù hay lõm, cao 2-4cm; tiểu nhụy nhiều; tâm bì không lông, không vòi nhụy. Quả bế không cọng, không lông, dẹp dẹp, dài 4- 5mm [13], [36], [11].11: Tiêu bản thực vật Anemone chapaensis Gagnep [37] 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.12: Ảnh chụp rễ Phong Quỳ Sapa (Anemone chapaensis Gagnep.
Phong quỳ Sa Pa Anemone chapaensis Gagnep. (Hình ảnh từ internet: http://vietnamplants. Phân bố Anemone chapaensis là loài đặc hữu của miền Bắc Việt Nam mới chỉ gặp ở Sa Pa, tỉnh Lào Cai., Cây mọc rải rác trong rừng vùng núi đá, nơi ẩm, ven khe suối, ở độ cao 1200-1500m. Tái sinh bằng thân rễ [13], [1], [11].
Thành phần hóa học và tác dụng sinh học Hiện tại đã có một số nghiên cứu về đặc điểm thực vật , thành phần hoá học và tác dụng sinh học của phần trên mặt đất của Phong quỳ Sa Pa (Anemone chapaensis Gagnep. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Nghiên cứu thực vật được tiến hành trên phần rễ cây Phong quỳ Sa Pa khi cây có đủ hoa, quả được thu hái ở đèo Hoàng Liên (Ô Qui Hồ, ở độ cao 1500 đến 1800m), thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Mẫu tiêu bản khô gồm có cành, lá, hoa số 01 thu hái ngày 11/9/2013 và mẫu tiêu bản số 02 thu hái ngày 24/5/2015 tại đèo Hoàng Liên, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai được giám định bởi TS.Đỗ Thị Xuyến; được lưu giữ tại phòng Bách thảo thực vật, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và Khoa Hóa phân tích-Tiêu chuẩn, Viện Dược liệu.
Mẫu dược liệu được lưu giữ tại Khoa Hóa phân tích-Tiêu chuẩn, Viện Dược liệu. NGUYÊN VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Hóa chất và dung môi - Các dung môi công nghiệp dùng để chiết: cồn 96%, n-hexan, ethyl acetat, n- butanol, nước cất. - Các dung môi tinh khiết (PA) dùng trong sắc ký lớp mỏng, sắc ký cột.
- Acid acetic, HCl (Merk). - Các thuốc thử, dung môi, hóa chất khác sử dụng trong nghiên cứu đạt tiêu chuẩn phân tích theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam IV. Thiết bị, máy móc, dụng cụ - Bản mỏng silica gel F254 và RP-18 F254S tráng sẵn trên tấm nhôm (Merck). - Bột silica gel pha thường cỡ hạt 40-200 µm, pha đảo RP-18 cỡ hạt 30-50 µm (Merck).
- Cân kỹ thuật Sartorius, cân phân tích Precisa XT 220A. - Máy xác định độ ẩm Precisa XM60-HR, tủ sấy Shellab, đèn tử ngoại. - Hệ thống chiết hồi lưu dung tích bình cầu 10 lít, máy cất quay. - Dụng cụ thủy tinh: các loại cột sắc ký đường kính từ 1-10cm, dài từ 30-100 cm; bình cầu ngoại dung tích 50-2000 ml; ống nghiệm, ống đựng mẫu NMR, pipet chính xác… - Máy đo phổ khối lượng (MS): AGILENT 6310 LC-MSD Trap.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Máy đo phổ cộng hưởng hạt nhân (NMR): Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer. - Các dụng cụ thí nghiệm khác thuộc Viện dược liệu - Bộ Y tế; Bộ môn Dược liệu - Dược cổ truyền, Khoa Y dược, Đại học Quốc gia Hà Nội. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Phương pháp xử lý mẫu và chiết xuất Rễ cây Phong quỳ được rửa sạch sau khi thu hái, sau đó được thái nhỏ và phơi khô trong bóng râm.
Mẫu tiếp tục được đem chiết nóng ở 70oC bằng dung môi cồn 96%, chiết 3 lần sau đó gộp dịch lại và tiến hành cất thu hồi dung môi và thu được cao toàn phần Ethanol. Phân tán cao chiết này trong nước cất và chiết phân bố qua ba phân đoạn n- hexan, ethyl acetat, n-Butanol. Mỗi phân đoạn chiết 3 lần, sau đó dịch chiết ở mỗi phân đoạn được đem đi cô thu hồi dung môi và thu được cao trên các phân đoạn. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dược liệu chiết nóng 3 lần với cồn 96% Dịch chiết Ethanol thu hồi dung môi Cắn toàn phần Phân tán trong H2O chiết phân đoạn với n-Hex thu hồi dung môi Phân đoạn n-Hexan Phân đoạn nước 1 Chiết phân đoạn với EtOAc thu hồi dung môi Phân đoạn Ethyl Phân đoạn nước 2 Acetat Chiết phân đoạn với BuOH thu hồi dung môi Phân đoạn BuOH Phân đoạn nước 3 Hình 2.1: Sơ đồ quá trình chiết xuất Rễ Phong quỳ Sapa 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phương pháp phân lập Lựa chọn phân đoạn có tiềm năng và tiến hành xử lý và phân lập. Quá trình phân lập các hợp chất từ phân đoạn đã chọn sử dụng phương pháp sắc kí cột với các chất hấp phụ là hạt silica gel pha thường, pha đảo. Sắc ký lớp mỏng được dùng để theo dõi vết các chất từ dịch chiết phân đoạn và sơ bộ kiểm tra độ tinh khiết của các chất phân lập. Đặc điểm chính của những phương pháp sắc ký sử dụng trong nghiên cứu [6]: Sắc ký cột: o Cột thủy tinh: đường kính thay đổi từ 1-10cm, chiều dài từ 30-100 cm.
o Pha tĩnh: thường dùng hạt silica gel pha thuận cỡ hạt 63-200 μm (dùng cho cột to đường kính khoảng 10 cm) hoặc 40-63 μm (dùng cho cột có đường kính 5 cm trở xuống); silica gel pha đảo cỡ hạt 30 - 50 μm. o Phương pháp nạp cột và đưa mẫu lên cột: Hạt silica gel được nạp vào cột theo phương pháp nạp cột ướt sử dụng hỗn hợp dung môi chính là pha động để rửa giải. Lựa chọn pha động rửa giải căn cứ vào bản mỏng sắc ký. Mẫu phân lập được đưa lên cột bằng cách đưa thẳng dung dịch hòa tan mẫu hoặc phân tán mẫu trong silica gel, sau đó làm khô silica gel, nghiền mịn rồi đưa lên cột.
o Hứng và gom dịch rửa giải: quá trình rửa giải, dịch rửa được hứng bằng ống thủy tinh. Dịch rửa giải trong các ống được gom lại dựa vào kết quả phân tích sắc ký lớp mỏng.