Tổng quan nghiên cứu

Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía Bắc có vị trí chiến lược quan trọng với tổng diện tích tự nhiên đạt 3.526,64 km², dân số năm 2018 đạt 1.291 nghìn người và mật độ dân số 366 người/km². Với đặc trưng hơn 67% diện tích là địa hình đồi núi dốc trên 100m cùng lượng mưa trung bình năm lớn dao động từ 1.500 mm đến 2.500 mm, khu vực này thường xuyên chịu tác động nặng nề của các loại hình tai biến thiên nhiên. Tình trạng lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất và các hiện tượng thời tiết cực đoan diễn biến ngày càng phức tạp, gây chia cắt giao thông cục bộ, hư hỏng công trình hạ tầng và suy thoái nguồn tài nguyên đất canh tác.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu phân tích toàn diện hiện trạng, làm rõ nguyên nhân phát sinh tai biến thiên nhiên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2015 - 2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phòng tránh có cơ sở khoa học và tính ứng dụng thực tiễn cao. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 9 đơn vị hành chính cấp huyện, tập trung vào các lưu vực sông trọng điểm như sông Cầu (diện tích lưu vực 6.030 km²) và sông Công (diện tích lưu vực 957 km²).

Kết quả nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ bảo vệ hệ thống hạ tầng gồm hơn 3.650 km đường giao thông nông thôn, bảo đảm an toàn sinh kế cho hơn 1,29 triệu dân và duy trì ổn định nguồn nước tưới tiêu cho 85.000 ha đất nông nghiệp. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học tin cậy phục vụ công tác quy hoạch không gian kinh tế - xã hội gắn liền với nhiệm vụ giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của ba quan điểm địa lý hiện đại: quan điểm hệ thống xem môi trường tự nhiên như một thể tổng hợp động lực mở có sự tương tác chặt chẽ giữa các thành phần; quan điểm lãnh thổ tiếp cận không gian theo đặc thù địa phương gắn liền với các vùng lân cận; và quan điểm phát triển bền vững theo định hướng của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (Brundtland, 1987) nhằm cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Khung lý thuyết của luận văn tích hợp mô hình phân loại trượt lở đất quốc tế theo tác giả Varnes D.J (1978), phân chia các dạng dịch chuyển khối đất đá theo cơ chế sụt lở, lật, trượt conxekven, trượt ép trồi và trượt dòng. Bốn khái niệm học thuật cốt lõi được vận dụng xuyên suốt bao gồm: tai biến thiên nhiên (hiện tượng bất thường từ tự nhiên đe dọa trực tiếp đời sống con người), lũ lụt (hiện tượng ngập úng diện rộng do lưu lượng nước vượt mặt cắt thoát lũ), lũ quét (dòng lũ ngậm bùn đá dâng nhanh có sức tàn phá dữ dội tại các sườn dốc) và hạn hán khí tượng - thủy văn (sự thiếu hụt nguồn ẩm trong khí quyển và nguồn nước mặt kéo dài).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập đồng bộ từ chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn giai đoạn 2015 - 2019 tại các trạm đo chủ lực như trạm Gia Bảy, trạm Chã, trạm hồ Núi Cốc và Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2019.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ theo chuỗi thời gian liên tục 60 tháng (từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 12 năm 2019) cho toàn bộ các chỉ số nhiệt độ, lượng mưa và mực nước tại 100% các trạm quan trắc trên địa bàn tỉnh; kết hợp điều tra thực địa tại hơn 20 điểm sạt lở và ngập lụt điển hình thuộc các huyện vùng cao.

Phương pháp phân tích giải đoán ảnh viễn thám Landsat bằng phần mềm ENVI 5.2 được lựa chọn nhờ khả năng bóc tách biến động lớp phủ thực vật, nhận diện chính xác các vết nứt và đới trượt lở trên diện rộng với chi phí tối ưu. Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS) giúp trực quan hóa các đới nguy cơ tai biến trên nền địa hình 3D. Phương pháp chuyên gia và tổng hợp đa nhân tố được áp dụng để đánh giá mối tương quan giữa tác nhân tự nhiên và hoạt động kinh tế nhân sinh, đảm bảo tính khách quan và độ chính xác của các kết luận khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng mưa tại Thái Nguyên phân hóa sâu sắc theo không gian và thời gian. Lượng mưa trung bình năm đạt từ 1.532,2 mm (năm 2016) đến 2.045,9 mm (năm 2017). Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung tới 87% tổng lượng mưa cả năm. Trong đó, lượng mưa tháng 8 đạt đỉnh cao nhất với 417,3 mm (năm 2018), chiếm gần 30% tổng lượng mưa năm, trong khi tháng 12 là tháng kiệt nhất chỉ đạt 11,7 mm (năm 2019), tương đương 0,5% lượng mưa năm.

Thứ hai, chế độ thủy văn sông Cầu ghi nhận diễn biến lũ lụt phức tạp với tần suất xuất hiện trung bình từ 8 đến 10 trận lũ mỗi năm. Mực nước đỉnh lũ tại trạm thủy văn Gia Bẩy biến thiên mạnh mẽ qua các năm: đạt 2561 cm năm 2015, giảm xuống 2428 cm năm 2016, đạt 2553 cm năm 2018 và tăng vọt lên 2643 cm vào tháng 9 năm 2019. Đỉnh lũ năm 2019 cao hơn mức Báo động II tới 43 cm, vượt đỉnh lũ năm 2018 là 90 cm và cao hơn trung bình nhiều năm 64 cm.

Thứ ba, lưu lượng dòng chảy mùa lũ có sự chênh lệch cực đoan so với mùa kiệt. Lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất trên sông Cầu tại trạm Gia Bảy đạt 1.530 m³/s năm 2019, trong khi lưu lượng mùa cạn thấp nhất chỉ đạt 11,9 m³/s năm 2015 và 14,4 m³/s năm 2019, tạo ra mức chênh lệch lưu lượng dòng chảy gấp hơn 106 lần giữa hai mùa.

Thứ tư, tai biến sạt lở đất và lũ quét phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện miền núi có độ cao trên 200m và sườn dốc lớn như Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ và Võ Nhai. Đất núi chiếm 48,2% và đất đồi chiếm 32,4% tổng diện tích toàn tỉnh; cấu trúc nham thạch sa phiến thạch kết hợp phong hóa mạnh tạo ra lớp vỏ bở rời dày, rất dễ mất ổn định khi gặp mưa lớn kéo dài.

Thảo luận kết quả

Diễn biến tai biến thiên nhiên tại Thái Nguyên là kết quả tổng hòa của các nhân tố nội tại về tự nhiên và áp lực gia tăng từ phát triển kinh tế - xã hội. Về mặt tự nhiên, dãy Tam Đảo với đỉnh cao 1.590 m ở phía tây và cánh cung Ngân Sơn, Bắc Sơn ở phía bắc - đông bắc tạo thành phễu đón gió mùa mang ẩm, làm gia tăng cường độ các trận mưa lớn cục bộ. Độ dốc lưu vực sông Cầu đạt trung bình 16,1% khiến thời gian tập trung dòng chảy mặt diễn ra nhanh chóng, gia tăng áp lực ngập lụt vùng hạ lưu.

Về nhân tố nhân sinh, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và việc mở rộng các khu công nghiệp như Sông Công I và II (tổng quy mô 470 ha), Yên Bình (200 ha), Điềm Thụy (200 ha) đã làm thu hẹp không gian tiêu thoát nước tự nhiên. Hoạt động khai thác khoáng sản than mỡ (trữ lượng hơn 15 triệu tấn), than đá (khoảng 90 triệu tấn) và mỏ vonfram Núi Pháo (trữ lượng 21 triệu tấn) tạo ra các bãi thải lớn và làm xáo trộn lớp phủ bề mặt.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa sinh động thông qua bảng thống kê tương quan đa biến giữa lượng mưa tháng và mực nước đỉnh lũ tại trạm Gia Bảy giai đoạn 2015 - 2019, kết hợp biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu lưu lượng mùa lũ chiếm hơn 70% tổng dòng chảy năm và bản đồ GIS phân vùng không gian rủi ro sạt lở theo 3 cấp độ nguy cơ. So sánh với các nghiên cứu tại các tỉnh lân cận thuộc vùng Đông Bắc, Thái Nguyên có mức độ thiệt hại do tai biến nhân sinh kết hợp cao hơn do mật độ dân cư và tốc độ công nghiệp hóa vượt trội.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp và tự động hóa hệ thống quan trắc, cảnh báo sớm thiên tai. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Việt Bắc triển khai lắp đặt 100% trạm đo mưa tự động tại các xã vùng cao thuộc huyện Định Hóa, Võ Nhai và Đại Từ; nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm lũ quét và sạt lở đất trước 24 đến 48 giờ. Thời gian thực hiện từ năm 2021 đến năm 2023.

Thứ hai, tăng cường quản lý, bảo vệ và phục hồi thảm phủ rừng phòng hộ đầu nguồn. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Chi cục Kiểm lâm tỉnh thực hiện khoanh nuôi tái sinh 76.486,9 ha rừng tự nhiên hiện có, nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh từ mức 52,0% năm 2018 lên 54,0% vào năm 2025; cấm tuyệt đối việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp xung quanh khu vực hồ Núi Cốc (dung tích 210 triệu m³) và lưu vực đầu nguồn sông Cầu. Thời gian thực hiện giai đoạn 2021 - 2025.

Thứ ba, quy hoạch hạ tầng công trình phòng chống xói lở và khơi thông dòng chảy thoát lũ. Sở Giao thông Vận tải chủ trì gia cố taluy chống sạt trượt cho hơn 3.650 km đường giao thông nông thôn và các đoạn xung yếu trên Quốc lộ 3; Sở Xây dựng phối hợp Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên cải tạo, nạo vét 100% các trục tiêu thoát nước chính của sông Cầu nhằm đáp ứng lưu lượng xả lũ trên 1.500 m³/s. Thời gian thực hiện từ năm 2022 đến năm 2027.

Thứ tư, tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi mô hình canh tác thích ứng trên đất dốc. Hội Nông dân tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện hướng dẫn người dân áp dụng mô hình vườn - ao - chuồng - rừng (VACR), phát triển cây chè và cây ăn quả lâu năm trên 114.263 ha đất đồi; bảo đảm an ninh nguồn nước tưới tiêu cho 85.000 ha đất trồng trọt trong mùa khô hạn. Thời gian thực hiện liên tục giai đoạn 2021 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và ban chỉ huy phòng chống thiên tai (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Thái Nguyên). Các đơn vị này có thể ứng dụng trực tiếp bản đồ hiện trạng lũ lụt và các chỉ số thủy văn của sông Cầu để xây dựng phương án ứng phó, di dời dân cư tại 125 xã vùng cao miền núi.

Nhóm 2: Các kỹ sư, nhà quy hoạch hạ tầng giao thông và đô thị. Luận văn cung cấp số liệu thực tế về lưu lượng đỉnh lũ 1.530 m³/s và cao độ ngập lụt 2643 cm tại trạm Gia Bảy làm căn cứ kỹ thuật để thiết kế khẩu độ thoát nước cầu cống, tính toán kết cấu nền đường chống sạt lở cho các tuyến giao thông trọng điểm.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Địa lý Tự nhiên, Quản lý Tài nguyên và Biến đổi khí hậu. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về quy trình xử lý ảnh viễn thám Landsat bằng phần mềm ENVI 5.2 kết hợp phân tích chuỗi dữ liệu thủy văn 5 năm (2015 - 2019).

Nhóm 4: Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản và hợp tác xã nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Số liệu về chu kỳ hạn hán, lũ lụt giúp các đơn vị chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, bảo vệ công trình khai khoáng và tối ưu hóa thời vụ gieo trồng trên hơn 352.664 ha diện tích đất toàn tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Lũ lụt tại tỉnh Thái Nguyên thường tập trung vào thời gian nào và có đặc điểm gì? Lũ lụt xuất hiện chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, trùng với mùa mưa chiếm 87% lượng mưa cả năm. Đỉnh lũ thường tập trung cao nhất vào tháng 8 và tháng 9. Trên lưu vực sông Cầu, mỗi năm xuất hiện trung bình từ 8 đến 10 trận lũ với thời gian diễn biến kéo dài từ 2 đến 3 ngày mỗi đợt.

Mực nước đỉnh lũ cao nhất ghi nhận tại trạm thủy văn Gia Bảy trong giai đoạn 2015 - 2019 là bao nhiêu? Mực nước đỉnh lũ cao nhất ghi nhận được là 2643 cm vào tháng 9 năm 2019. Mức nước này cao hơn cấp Báo động II là 43 cm, vượt đỉnh lũ năm 2018 là 90 cm và cao hơn trung bình nhiều năm 64 cm, đi kèm với lưu lượng dòng chảy đạt 1.530 m³/s.

Những huyện nào tại Thái Nguyên có nguy cơ cao nhất về tai biến sạt lở đất và lũ quét? Các huyện miền núi phía bắc và phía tây như Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai và Đồng Hỷ có nguy cơ cao nhất. Nguyên nhân do khu vực này có địa hình đồi núi dốc chiếm trên 67% diện tích, cấu tạo sa phiến thạch phong hóa dày và lượng mưa tập trung lớn trên 2.000 mm/năm.

Sự chênh lệch lượng mưa giữa mùa khô và mùa mưa tại Thái Nguyên diễn ra như thế nào? Sự phân hóa diễn biến hết sức sâu sắc: mùa mưa (tháng 5 - 10) chiếm tới 87% tổng lượng mưa cả năm, tháng 8 cao nhất đạt 417,3 mm (năm 2018). Ngược lại, mùa khô (tháng 11 - 4) chỉ chiếm 13%, trong đó tháng 12 kiệt nhất chỉ đạt 11,7 mm (năm 2019), chiếm khoảng 0,5% lượng mưa năm.

Công nghệ viễn thám và GIS được ứng dụng như thế nào trong nghiên cứu này? Nghiên cứu sử dụng phần mềm ENVI 5.2 để giải đoán tư liệu ảnh vệ tinh Landsat nhằm phân tích lớp phủ thực vật và xác định các điểm trượt lở đất. Kết hợp công cụ GIS để chồng xếp các lớp dữ liệu địa hình, độ dốc và mạng lưới thủy văn, từ đó thành lập bản đồ hiện trạng tai biến thiên nhiên.

Kết luận

Luận văn đã làm rõ bức tranh toàn diện về tai biến thiên nhiên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên với 5 đóng góp chính:

  • Xác lập cơ sở khoa học đồng bộ đánh giá tai biến thiên nhiên dựa trên sự kết hợp giữa quan điểm hệ thống, lãnh thổ và khung phân loại trượt lở quốc tế của Varnes D.J.
  • Định lượng chi tiết đặc trưng khí hậu - thủy văn giai đoạn 2015 - 2019, chỉ ra sự chênh lệch lưu lượng dòng chảy sông Cầu mùa lũ gấp hơn 106 lần mùa kiệt.
  • Nhận diện chính xác 5 huyện trọng điểm có nguy cơ sạt lở đất và lũ quét cao gồm Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ và Võ Nhai.
  • Phân tích rõ tác động cộng hưởng của các hoạt động kinh tế nhân sinh như phát triển 7 khu công nghiệp tập trung và khai thác khoáng sản đối với mức độ gia tăng tai biến.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp công trình và phi công trình cụ thể, gắn liền với mục tiêu duy trì tỷ lệ che phủ rừng trên 52,0% và bảo đảm an toàn hạ tầng kỹ thuật.

Về lộ trình tiếp theo, tỉnh Thái Nguyên cần ưu tiên hoàn thiện hệ thống đo mưa tự động và bản đồ số hóa cảnh báo thiên tai trong giai đoạn 2021 - 2023, tiếp tục nâng cấp hạ tầng thoát lũ và kiểm soát sạt lở đến năm 2030. Các cơ quan quản lý và nhà khoa học cần tiếp tục theo dõi, cập nhật các biến số khí hậu mới nhằm nâng cao năng lực chủ động thích ứng, bảo vệ tính mạng người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững cho địa phương.