chương I Đập đá đổ bản mặt bê tông ngày càng khảng định ưu thế rõ ràng của nó so với các loại đập khác. Nguyên lý làm việc của đập rất rõ ràng và đơn giản, tuy vậy cần chú trọng tuân thủ chặt chẽ các quy định về thiết kế thi công, biện pháp chống thấm, kết cẩu bản mặt cũng như vận hành đập để đảm bảo an toàn và nâng cao tuổi thọ của đập. Mặt khác, cũng cần cập nhật kịp thời các công nghệ đã được áp dụng ở trong và ngoài nước để nâng cao khả năng an tòan của đập. Xu hướng phát triển đập đập đá đổ bản mặt bê tông (CFRD) : - Tính toán lựa chọn cấp phối hợp lý giữa các vùng.
- Tính toán kết cấu bản mặt phù hợp chống thấm cho đập, đảm bảo không nứt nẻ bề mặt. 12 - Nghiên cứ sử dụng bê tông mác cao phụ gia và chất hỗ trợ khác trong bê tông như phụ gia gốc Silica fume dùng kết hợp với phụ gia siêu dẻo để giảm lượng thấm và đạt cường độ cao, tăng độ bền cho bê tông. - Nghiên cứu để xây dựng ở các loại nền khác nhau và nghiên cứu sự làm việc giữa nền – đập –bản mặt. - Nghiên cứu khắc phục một số sự cố thường gặp trong quá trình thi công như nứt nẻ bề mặt bê tông.
13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC XÁC ĐỊNH KẾT CẤU CHỐNG THẤM ĐẬP BÊ TÔNG BẢN MẶT 2. Các hình thức chống thấm cho đập đá đổ Đập đá đổ là vật liệu thấm nước với hệ thấm khá lớn tùy theo độ chặt và thành phần hạt, do vậy trong đập dá đổ cần thiết phải có kết cấu chống thấm. Kết cấu chông thấm, gọi tắt là vật cống thấm (VCT) được làm bằng vật liệu có hệ số tấm nhỏ hơn rất nhiều so với đá đổ (vật liệu đất) hoặc hầu như không thấm nước (vật liệu không phải là đât). Chống thấm cho đập đá đổ thường dùng hai loại hình thức: hình thức tường tâm bê tông asphan (hình 2-1a) và hình thức bản mặt bê tông cốt thép (hình 2-1b).
Hiện nay hình thức chống thấm bằng bản mặt bê tông cốt thép được sử dụng rộng rãi do có nhiều ưu điểm về chống thấm và điều kiện thi công, bản mặt bê tông được đổ trực tiếp trên lớp đệm mái dốc thượng lưu, từ đỉnh đập xuống dưới đáy lòng sông, đáy bản mặt được liên kết với bản chân ở trên nền lòng sông và hai vai đập, đỉnh bản mặt liên kết với bản chân tường chắn sóng. Dưới đây trình bày cơ sở khoa học để lựa chọn hình thức cấu tạo các bộ phận kết cấu chống thấm. Têng bª t«ng asphan chèng thÊm §¸ ®æ NÒn ®¸ (a) Hình thức tường tâm bê tông asphan B¶n mÆt BTCT chèng thÊm §¸ ®æ NÒn ®¸ (a) Hình thức bản mặt bê tông cốt thép Hình 2-1: Hình thức chống thấm đập đá đổ 14 2. Đập đá đổ có vật chống thấm ( VCT) bằng đất Vật chống thấm bằng đất gồm 2 loại chính là tường nghiêng và lõi giữa được cấu tạo bằng các loại đất dính ít thấm nước như á sét, sét, hoặc bê tông sét.1 Vật chống thấm bằng đất loại tường nghiêng Chiều dày tường nghiêng được xác định theo yêu cầu gradian thấm J để đảm bảo không xảy ra biến dạng thấm của vật kiệu tường nghiêng J =2-6.
Chiều dày tối thiểu ở phần đỉnh của tường nghiêng được lấy theo điều kiện thi công phụ thuộc vào phương pháp và thiết bị thi công. Phía ngoài mái thượng lưu của tường nghiêng được phủ lớp bảo vệ gia cố mái để chống sóng. Ví dụ đập đá đổ Miboro: Lớp 1 là lớp đá đổ loại đá granit; lớp 2 tầng lọc ngược bằng cát sỏi; lớp 3 là tường nghiêng bằng đât á sét. Hình 2-2: Đập đá đổ Miboro 2.2 Vật chống thấm kiểu lõi giữa Lõi giữa là loại kết cấu chống thấm được sử dụng rất phổ biển trong đập đá đổ.
Lõi giữa được chia làm 2 loại: Lõi thẳng đứng và lõi nghiêng. Đập có lõi giữa thẳng đứng thông thường có khối lượng nhỏ nhất so với đập có tường nghiêng chông thấm và đập có lõi nghiêng. Lõi giữa của đập có thể chia thành lõi mỏng và lõi dày. Lõi mỏng khi tỉ số b/H ≤ 1, còn lõi dày hay còn gọi là lõi trọng lực có tỉ số b/H> 1.
Đặc điểm của loại đập này: Vật liệu chủ yếu để xây dựng đập là vật liệu địa phương. Mặt cắt đập thiết kế phù hợp với tình hình vật liệu tại chỗ, đất lõi có khả năng chông thấm tốt nhưng khả năng chịu lực yếu được đặt vào lõi đập, đá đổ là vật liệu có 15 cường độ chống cắt cao hơn hẳn so với đất được bố trí ở bên ngoài cách bố trí này đó phát huy được hết ưu điểm, hạn chế được nhược điểm của các vật liệu. Hệ số ổn định của loại vật liệu này cao do vậy mà hệ số mỏi của đập thường nhỏ, chính vì vậy mà hầu hết các đập cao trên thế giới đều là loại đập này. Đập loại này chịu động đất tốt, khó bị phá hoại do chiến tranh, xây dựng được cả trên nền đập có tầng cuội sỏi dày.
Ví dụ đập lõi mỏng Inferilo: lớp 1 da cố bằng đá lớn; lớp 2 đệm bằng cuộn sỏi có cỡ hạt tới 50mm; lớp 3 khối đá đắp chặt bằng đá nhỏ; lớp 4. 5 là lớp lọc thứ nhất và thứ hai có cỡ hạt tương ứng là 0,1-10 và 5-150 mm; 6,7 đê quay hạ lưu đợt 1 và đợt 2; 8 hầm để khoan phun xi măng; 9 lõi đập; 10 màng phun xi măng chống thấm.3: Đập đá đổ lõi thẳng đứng Infernilo Ví dụ đập đá đổ trong lõi đập trọng lực là đập Triniti (Mỹ ): Lớp 1 lõi bằng hỗn hợp đất sét và sỏi; 2 vùng chuyển tiếp bằng đất cát sỏi; 3 lăng trụ bên bằng đá cuội và đá tảng lăng; 4 đá đổ; 5 gia cố mái dốc; 6 đá anđehit biến chất; 7 màng phun xi măng chống thấm ở nền; 8 răng bê tông.4: Đập đá đổ lõi giữa Triniti 16 Ở Việt Nam có đập đá đổ chống thấm kiểu lõi giữa như đập Ialy ở tỉnh Gia Lai, đập Hòa Bình tỉnh Hòa Bình. Địa chất nền đập của công trình thủy điện Ialy khá tốt cho việc xây dựng đập đá đổ lõi đập ở phần lòng sông và một phần ở sườn đồi đặt trên nền đá, đây là loại đá rắn chắc nứt nẻ ít và loại đá rắn chắc nứt nẻ niều. Đập Hòa Bình cũng ứng dụng hình thức mặt cắt này, do địa chất ở đây có tầng cuội sỏi dày tới ( 60 ÷ 70m).
Đập đá đổ lõi nghiêng là loại kết cấu chông thấm thuộc dạng trung gian giữa tường nghiêng và lõi đứng, được lựa chọn vào các điều kiện cụ thể như yêu câu nối tiếp lõi với kết cấu chống thấm ở nền, vấn đề thi công, các diều kiện kinh tế kĩ thuật. Ví dụ đập lõi nghiêng như đập Tichves: Lớp 1 đá lớn gia cố mái đập; 2 đá nhỏ; 3 đá dăm; 4 đá lát; 5 khối đá đổ; 6 hỗn hợp đá núi; 7 lõi là sân trước bằng á sét; 8 màng chống thấm; 9 hành lăng khoan phun. Đập đá đổ lõi nghiêng Tichves 2. Đập đá đổ có vật chống thấm (VCT) không phải là đất 2.
Vật chống thấm dạng tường nghiêng Vật liệu tường nghiêng có thể gồm các loại sau: bể tông và bê tông cốt thép; bê tông alphan. Tường nghiêng bê tông và bê tông cốt thép: Thường có các loại cứng, nửa cứng và dẻo, hàm lượng cốt thép trong bê tông có thể tới 0. Nếu đá đổ được đầm chặt thì hàm lượng cốt thép trong bê tông có thể giảm tới 0,1%. Bê tông dùng 17 cho tường nghiêng phải có mác cường độ chịu nén không dưới M200 và mác chống thấm không nhỏ hơn B8.
Chiều dày của tường nghiêng bê tông cốt thép ở phần trên đỉnh thường là 20 – 30 cm, còn ở dưới đáy được tăng lên đến 1% chiều cao của đập. Tường nghiêng bê tông cốt thép loại cứng là tường có kết câu nguyên khối đổ tại chỗ, do đó kích thước tấm có thể lớn với độ dày lớn. Bê tông được đổ trực tiếp lên trên bề mặt lớp đá lát hoặc đá xây khan (xây không có vữa) và chỉ bố trí khớp nhiệt (khe co dãn) theo phương thẳng đứng, không có khớp lún thep phương ngang. Cốt théo được đặt theo cả 2 hướng xuyên qua các khe thi công hàm lượng cốt thép trong phạm vị 30-70kg/m3 bê tông.
Chiều dài tường nghiêng được tăng từ 25 – 35 cm ở trên đỉnh đến 1/60 chiều cao đạp ở dưới chân tường nghiêng được néo vào khối đá xây (tầng đệm dưới đáy tường) với khoảng cách néo 1,2 – 1,5 m. Tường nghiêng cứng được thi công sau khi hoàn thành thi công phân đập. Loại tường nghiêng cứng ít phổ biến chỉ sử dụng cho các đập có chiều cao nhỏ và xây sựng trên nền đá khi biến dạng lún không đáng kể. Tường ngiêng nửa cứng là loại kết cất được chia thành các tấm có khớp nối chông lún và chống co dãn ( khe nhiệt – lun) được đặt ngang – dọc theo bề mặt mái dốc.
Khoảng cách giữa các khớp thay đổi trong phạm vi phổ biến là 4 đến 5 m. Khoảng cách giữa các khớp nhiệt thẳng đứng thường là 12 – 18 m, còn khoảng cách giữa các khớp lún lấy bằng 12 – 20 m ở phần trên và bằng 3 – 6m ở phần sát nền.6 minh họa cát ngang đật đá đổ tường nghiêng bê tông cốt thép: 1 đá đổ ; 2 đá xây khan dày; 3 tường nghiêng bê tông cố thép dày 0,3 – 1 m; 4 răng bê tông có hành lang khoan phun; màng phun xi măng chống thấm ở nền; 6 đổ cao su trong khớp góc; 7 nút; 8 gỗ; 9 matit ; 10 nhựa đường; 11 lá đồng; 12 bê mặt phủ nhựa đường. Đập đá đổ có VCT tường nghiêng bê tông cốt thép Tường nghiêng bê tông cốt thép nửa cứng được đặt trên lớp bê tông có quét phủ nhựa đường ở bề mặt hoặc dán vải tẩm nhựa đường, cho phép tường và mặt đập có thể biến dạng tự do, đảm bảo sự chống thấm tốt. Tấm bê tông của tường nghiêng được phân khối có thể là vuông hoặc chữ nhật có chiều dài 10 – 20 m khe nố giữa các tấm có kết câu chắn nước để chông thấm.
Bề rộng khe nối thường là 2.5 - 5 cm khu vực tường nghiêng nối tiếp với bờ và nền có khe biên để chống nứt khi tường nghiêng biến dạng.