Chương 1 TỔNG QUAN 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020 CỦA HUYỆN CHƯ PRÔNG 1. Đặc điểm tự nhiên Huyện Chư Prông là đơn vị hành chính nằm về phía Tây Nam của tỉnh Gia Lai, có diện tích tự nhiên 1.695 km2, chiếm 10,92% diện tích tự nhiên của tỉnh.865, chiếm 13,5% dân số tỉnh Gia Lai; mật độ dân cư: 57,73 người/km2 (năm 2010). Ranh giới: phía Bắc giáp thành phố Pleiku; phía Nam giáp tỉnh ĐăkLăk; phía Tây giáp nước bạn Cam-Pu-Chia; phía Đông giáp huyện Chư Sê.
Chư Prông có 19 xã (Gồm các xã: Bàu Cạn, Bình Giáo, Ia Bang, Ia Băng, Ia Boòng, Ia Drăng, Ia Ga, Ia Kly, Ia Lâu, Ia Mơ, Ia O, Ia Phìn, Ia Pia, Ia Pior, Ia Puch, Ia Tôr, Ia Vê và Thăng Hưng) và 01 thị trấn (thị trấn Chư Prông), trung tâm huyện cách thành phố Pleiku khoảng 20 km về phía Tây Nam. Hiện trạng kinh tế - xã hội - Qua 05 năm (2011 - 2016) thực hiện, tình hình kinh tế - xã hội của huyện tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân 05 năm đạt 7,47%/năm. - Nông, lâm, thủy sản tăng 5,29%/năm. - Công nghiệp - xây dựng tăng 11,63%/năm.
- Dịch vụ tăng 12,79%/năm. - Thu nhập bình quân 28,2 triệu đồng/người/năm. Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020 - Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân: 8,1%/năm. 1 - Nông, lâm, thủy sản: 10,48%/năm.
- Công nghiệp - xây dựng: 21,2%/năm. - Thu nhập bình quân đến năm 2020: 40 triệu đồng/người /năm. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI 1. Về lưới điện LĐPP là khâu cuối cùng của hệ thống điện làm nhiệm vụ phân phối điện năng từ các trạm trung gian (hoặc trạm biến áp khu vực, hoặc thanh cái nhà máy điện) cho các phụ tải.
LĐPP bao gồm 2 phần: lưới điện trung áp và lưới điện hạ áp. Lưới điện phân phối trung áp thường có cấp điện áp 22kV cung cấp điện cho các trạm phân phối trung/hạ áp và các phụ tải trung áp. Lưới điện hạ áp cấp điện cho các phụ tải hạ áp 380/220V. Lưới điện thường có kết dây hình tia hoặc liên kết mạch vòng trong cùng một TBA nguồn hoặc với nhiều TBA nguồn với nhau.
Lưới phân phối: Từ các trạm trung gian địa phương đến các trạm phụ tải (trạm phân phối). Lưới phân phối trung áp (22kV) do Đ iện lực các tỉnh, thành phố quản lý và phân phối hạ áp (380/220V) được cấp giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực phân phối và bán lẻ điện, mua buôn điện từ Đơn vị phân phối điện để bán lẻ điện cho Khách hàng sử dụng điện. Mô hình lưới điện phân phối trung thế/hạ thế Lưới điện phân phối thường có các đặc điểm sau: - Đường dây phân bố trên diện rộng, nhiều nút, nhiều nhánh rẽ, bán kính cấp điện lớn. - Thường có cấu trúc kín nhưng vận hành hở, hình tia hoặc dạng xương cá.
- Một trạm trung gian thường có nhiều đường dây trục chính, mỗi trục cấp điện cho nhiều trạm phân phối. - Chế độ làm việc của phụ tải không đồng nhất. - Do tình hình phát triển phụ tải, cấu trúc lưới điện phân phối thường xuyên thay đổi. Lưới điện phân phối có 2 dạng: - Lưới điện phân phối trung áp trên không: sử dụng ở nông thôn là nơi có phụ tải phân tán với mật độ phụ tải không cao, việc đi dây trên không không bị hạn chế vì điều kiện an toàn hay mỹ quan.
Ở lưới phân phối trên không có thể dễ dàng nối các dây dẫn với nhau, các đường dây khá dài và việc tìm kiếm điểm sự cố không khó khăn như lưới phân phối cáp. Lưới phân phối nông thôn không đòi hỏi độ tin cậy cao như lưới phân phối thành phố. Vì thế lưới phân phối trên 3 không có sơ đồ hình tia, từ trạm nguồn có nhiều trục chính đi ra cấp điện cho từng nhóm trạm phân phối. Các trục chính được phân đoạn để tăng độ tin cậy, thiết bị phân đoạn có thể là máy cắt, máy cắt có tự động đóng lại có thể tự cắt ra khi sự cố và điều khiển từ xa.
Giữa các trục chính của một trạm nguồn hoặc của các trạm nguồn khác nhau có thể được nối liên thông để dự phòng khi sự cố và tạm ngừng cung cấp điện đường trục hoặc TBA nguồn. Máy cắt hoặc dao cách ly liên lạc được mở trong khi làm việc để vận hành hở. - Lưới điện phân phối cáp ngầm trung áp: được dùng ở thành phố có mật độ phụ tải cao, do đó lưới ngắn. Điều kiện thành phố không cho phép đi dây trên không mà chôn xuống đất tạo thành lưới phân phối cáp.
Lưới phân phối thành phố đòi hỏi độ tin cậy cung cấp điện cao, hơn nữa việc tìm kiếm điểm sự cố khó khăn và sửa chữa sự cố lâu nên lưới phân phối cáp ngầm có các sơ đồ phức tạp và đắt tiền. Các chỗ nối cáp được hạn chế đến mức tối đa vì xác suất h ỏ n g các chỗ nối rất cao. Mục đích hoạt động của lưới điện - Mục đích của lưới điện là thỏa mãn nhu cầu điện năng ngày càng tăng cao của người dùng điện. Đảm bảo chất lượng phục vụ cao, an toàn, liên tục đối với khách hàng đồng thời đạt hiệu quả kinh tế cao cho bản thân lưới điện.
- Cung cấp hàng hóa đặc biệt có ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của nhân dân, lưới điện cũng phải thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội của nhà nước. - Trong quy hoạch lưới điện phải tìm phương án phát triển tốt nhất cho giá thành sản xuất, truyền tải và phân phối nhỏ nhất, xét trong thời gian dài. - Trong thiết kế phải tìm được giải pháp kỹ thuật tối ưu, thỏa mãn mọi yêu cầu kỹ thuật nhưng có giá thành hợp lý và tạo được điều kiện thuận lợi cho vận hành sau này. - Trong vận hành cần tổ chức tốt quản lý kỹ thuật, theo dõi, điều khiển hoạt động của lưới điện sao cho chất lượng điện năng và độ tin cậy cao, chi phí vận hành bao gồm chi phí nhiên liệu, tổn thất công suất và điện năng, chi phí sửa 4 chữa sự cố, bảo quản.
Kịp thời phát hiện những bất hợp lý về kinh tế và kỹ thuật mới phát sinh do phụ tải tăng hoặc do thiết bị già hóa để có các biện pháp hoàn thiện lưới điện. Về phụ tải điện a. Phân loại phụ tải điện *Phụ tải điện nông thôn, miền núi Hệ thống cung cấp điện cho khu vực nông thôn, miền núi có đặc điểm khác biệt, mà có thể liệt kê một số nét cơ bản sau: - Mật độ phụ tải thấp và phân bố không đều trên phạm vi lãnh thổ rộng lớn. Điều đó gây khó khăn cho việc đầu tư có hiệu quả hệ thống cung cấp điện.
- Phụ tải rất đa dạng, bao gồm các hộ dùng điện trong trong sinh hoạt, trong sản xuất như: trồng trọt, thủy lợi, chăn nuôi, công nghiệp nhỏ, chế biến gỗ v. - Bán kính hoạt động lớn, dòng điện chạy trên đường dây không lớn, thời gian sử dụng công suất cực đại TM rất thấp, do đó làm giảm các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của mạng điện. - Phần lớn phụ tải điện nông nghiệp tác động theo mùa vụ, ví dụ các trạm bơm tưới cây: như tiêu, cà phê. - Sự chênh lệch giữa giá trị phụ tải cực đại và cực tiểu trong ngày rất lớn.
Điều đó dẫn đến những khó khăn lớn cho việc ổn định điện áp. - Sự phát triển liên tục của các phụ tải, sự phát triển và mở rộng các công nghệ hiện đại, sự phát triển cơ giới hóa và tự động hóa các quá trình sản xuất đòi hỏi phải không ngừng cải tạo và phát triển mạng điện theo những yêu cầu mới v. * Phụ tải sinh hoạt và dịch vụ công cộng Phụ tải sinh hoạt của các hộ gia đình bao gồm các thành phần: thắp sáng chiếm trung bình khoảng 50 - 70% tổng lượng điện năng tiêu thụ, quạt mát (20 - 30)%, đun nấu (10 - 20)%, bơm nước (5 - 10)% và các thành phần khác. Cùng với sự phát triển kinh tế, cơ cấu các thành phần phụ tải điện trong các hộ gia đình cũng thay đổi.
5 Phụ tải dịch vụ công cộng bao gồm các thành phần sử dụng cho các nhu cầu hoạt động của cộng đồng như: ủy ban, trường học, nhà văn hóa, trạm y tế, v.v * Phụ tải sản xuất Phụ tải sản xuất bao gồm các thành phần phụ tải sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. - Phụ tải công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: chủ yếu là máy hàn, máy gia công sắt, máy xay xát, máy xẻ gỗ, máy nghiền đá, máy kem đá, máy bơm nước.Nhu cầu phụ tải điện công nghiệp địa phương, tiểu thủ công và lâm nghiệp được xác định trên cơ sở nhu cầu hiện tại và định hướng phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn. - Phụ tải thủy lợi: chủ yếu là các trạm bơm tưới và tiêu úng. Các loại động cơ dùng ở các trạm bơm thường là loại không đồng bộ công suất đặt từ 10 ÷ 100 kW.
Các đặc trưng của phụ tải Phụ tải biến đổi không ngừng theo thời gian, theo quy luật sinh hoạt của cuộc sống và sản xuất. Quy luật này được đặc trưng bởi ngày đêm và đồ thị kéo dài. - Đồ thị phụ tải ngày đêm diễn tả công suất trong từng giờ của ngày đêm theo đúng trình tự thời gian, đồ thị ngày đêm gồm có đồ thị công suất tác dụng và đồ thị công suất phản kháng yêu cầu. Đồ thị phụ tải ngày đêm có nhiều loại dùng cho các mục đích khác nhau: + Đồ thị phụ tải trung bình là trung bình cộng của các đồ thị phụ tải trong năm, mùa (1/2 năm) hoặc tháng, tuần dùng để tính nhu cầu điện năng và lập kế hoạch cung cấp điện năng.
+ Đồ thị phụ tải các ngày điển hình: ngày làm việc, chủ nhật, ngày trước và sau chủ nhật…của từng mùa, tháng, tuần…để lập kế hoạch sản xuất, tính toán điều áp… - Đồ thị phụ tải kéo dài: muốn xét sự diễn biến của phụ tải trong khoảng thời gian dài như: tuần lễ, tháng, quý hay năm thì đồ thị phụ tải ngày đêm không thích 6 hợp nữa. Lúc này người ta dùng đồ thị phụ tải kéo dài.