BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HÀ VĂN LƯU NGHIÊN CỨU DAO ĐỘNG CỦA GHẾ NGỒI NGƯỜI LÁI TRÊN MÁY KÉO NÔNG NGHIỆP MTZ-80 KHI SỬ DỤNG TRONG ĐIỀU KIỆN LÂM NGHIỆP LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT Hà Nội, 2010 c BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HÀ VĂN LƯU NGHIÊN CỨU DAO ĐỘNG CỦA GHẾ NGỒI NGƯỜI LÁI TRÊN MÁY KÉO NÔNG NGHIỆP MTZ-80 KHI SỬ DỤNG TRONG ĐIỀU KIỆN LÂM NGHIỆP Chuyên ngành: Kỹ thuật máy và Thiết bị cơ giới hoá Nông Lâm nghiệp Mã số: 60.14 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT Người hướng dẫn : TS. Nguyễn Văn Bỉ Hà Nội, 2010 c 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây cùng với sự đổi mới về cơ chế quản lý và sự tiến bộ về kỹ thuật, ngành lâm nghiệp đã sử dụng khá nhiều loại ôtô, máy kéo vào việc cơ giới hoá trong sản xuất lâm nghiệp. Việc sử dụng đa dạng các loại thiết bị đang làm nẩy sinh nhu cầu nghiên cứu chế độ công nghệ hợp lý để chúng có thể phát huy được tác dụng, đồng thời đảm bảo được yêu cầu an toàn cho thiết bị và người lái. Các chế độ sử dụng hợp lý chỉ có thể có sau khi xây dựng được những mô hình tính toán chính xác, hợp lý. Vì vậy việc lập các mô hình tính toán cho mỗi loại liên hợp máy và khảo sát chúng tương ứng với các khâu trong công nghệ sản xuất có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất thiết thực; là cơ sở cho thiết kế, cải tiến và sử dụng hợp lý thiết bị trong những điều kiện nhất định. Hiện nay để góp phần công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn, ngành lâm nghiệp nước ta đang chủ trương đẩy nhanh tiến độ áp dụng cơ giới hoá đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các khâu công việc nói chung và đặc biệt là sử dụng máy kéo chuyên dùng hoặc máy kéo nông nghiệp sau khi nghiên cứu thiết kế, cải tiến, chế tạo phục vụ cho các khâu công việc trong sản xuất nông lâm nghiệp. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất, một số loại máy kéo công suất vừa và nhỏ nhập khẩu vào nước ta đang được sử dụng khá phổ biến trong sản xuất nông, lâm nghiệp; trong đó có loại máy kéo MTZ-80. Do đặc điểm của đường vận xuất và vận chuyển lâm sản có địa hình phức tạp, mặt đường chất lượng thấp, có độ mấp mô lớn. Nên khi máy kéo di chuyển sẽ chịu lực kích động mặt đường ảnh hưởng đến nhiều chỉ tiêu động lực học như độ êm dịu, tính ổn định, độ bền lâu… Đặc biệt người điều khiển máy kéo sẽ phải chịu đựng các giá trị về biên độ và tần số rung lớn hơn cho phép. c 2 Để nâng cao khả năng phục vụ của loại máy kéo nông nghiệp MTZ - 80 cho phù hợp với điều kiện sản xuất lâm nghiệp, nhất là điều kiện làm việc của người điều khiển máy kéo khi di chuyển trên đường vận xuất và vận chuyển lâm sản. Tác giả thực hiện đề tài: "Nghiên cứu dao động của ghế ngồi người lái trên máy kéo nông nghiệp MTZ - 80 khi sử dụng trong điều kiện lâm nghiệp” c 3 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Khái quát về hình thức và thiết bị vận xuất, vận chuyển gỗ Hiện nay ở nước ta công nghệ vận xuất gỗ thường được sử dụng các loại hình như: Vận xuất bằng súc vật, vận xuất bằng máng lao, vận xuất bằng máy kéo, vận xuất bằng đường cáp, vận xuất bằng đường thuỷ… Trong các hình thức vận xuất nêu trên thì hình thức vận xuất bằng máy kéo là phổ biến hơn cả. Máy kéo dùng vận xuất gỗ có 2 loại: Máy kéo bánh xích và máy kéo bánh hơi. Trong máy kéo bánh hơi lại chia làm 2 loại: Máy kéo bánh hơi chuyên dùng và máy kéo bánh hơi nông nghiệp có lắp thêm các thiết bị chuyên dùng để vận xuất gỗ và vận chuyển gỗ. Khi sử dụng máy kéo bánh hơi chuyên dùng trong vận xuất gỗ cho năng suất rất cao và giảm nhiều chi phí vì máy kéo chuyên dùng có công suất lớn, tính ổn định và khả năng kéo bám cao, kết cấu phù hợp, làm việc linh hoạt. Tuy nhiên, loại máy kéo này thường có giá thành cao và chỉ phù hợp với qui mô sản xuất lớn, trữ lượng khu khai thác nhiều, kích thước sản phẩm gỗ lớn. Hiện nay, trên thế giới một số nước có ngành sản xuất lâm nghiệp phát triển họ đã chế tạo và đưa vào sử dụng một số loại máy kéo chuyên dùng có công suất lớn. Các máy kéo dùng trong vận xuất gỗ rất đa dạng song có thể chia làm 2 nhóm: Máy kéo bánh xích và máy kéo bánh bơm. Các máy kéo bánh bơm có ưu điểm nội trội hơn so với máy kéo bánh xích cùng cỡ vì: Chúng có khối lượng nhỏ, tốc độ làm việc lớn hơn, chi phí nhiên liệu cho 1m3 gỗ vận xuất ít hơn và năng suất cao hơn. Mặt khác, máy kéo bánh bơm ít phá hại cây con, đất rừng. Do những ưu điểm như vậy mà máy kéo bánh bơm được sử dụng ngày càng rộng rãi hơn so với máy kéo bánh xích [21], [26], [32]. c 4 Máy kéo bánh bơm trong vận xuất gỗ được chia làm 2 loại: Máy kéo bánh bơm chuyên dùng và máy kéo bánh bơm nông nghiệp có lắp thêm các thiết bị chuyên dùng để vận xuất, vận chuyển gỗ. Đặc điểm của máy kéo bánh bơm chuyên dùng là có công suất lớn, kết cấu gọn, độ bền cao, làm việc linh hoạt và cho năng suất rất cao. Tuy nhiên, loại này thường đắt tiền và chỉ phù hợp với quy mô sản xuất lớn, trình độ cơ giới cao, cơ sở hạ tầng và dịch vụ kỹ thuật tốt. Bên cạnh loại máy kéo chuyên dùng, các nước còn sử dụng loại máy kéo bánh bơm nông nghiệp được trang bị các thiết bị chuyên dùng để vận xuất, vận chuyển gỗ và phục vụ cho các khâu trồng rừng. Việc sử dụng máy kéo nông nghiệp trong khai thác rừng làm tăng hiệu quả sử dụng máy và góp phần giải quyết công ăn, việc làm, tăng thu nhập cho người lao động [40]. Do đặc điểm đường, địa hình và loại hàng vận chuyển là gỗ và các lâm sản khác, điều kiện làm việc của thiết bị trong vùng đồi núi, có thể có nhiều công trình tạm thời như đập tràn, cầu vượt, cống, khe suối cạn, các loại vật cản…. đòi hỏi ô tô-máy kéo phải có tính ổn định và phải có tính năng an toàn cao khi chuyển động, có khả năng kéo bám tốt, chuyển động thuận lợi, an toàn. Trước tác động của cơ chế kinh tế nhiều thành phần, do việc giao đất khoán rừng cho các tổ chức tập thể, các hộ nông dân sử dụng lâu dài trên các địa bàn trung du, miền núi các trang trại sản xuất nông lâm nghiệp xuất hiện; kinh tế trang trại và các sản phẩm từ trang trại cũng đang là thị trường hấp dẫn cho các dịch vụ cơ khí lâm nghiệp, đặc biệt là công tác vận chuyển. Nhiều công ty, lâm trường, hộ gia đình, các chủ trang trại đã mua máy kéo để thực hiện các dịch vụ trên. Nhìn chung các loại máy kéo nông nghiệp này về đặc tính sử dụng và kết cấu chưa được khai thác triệt để, nhiều chỉ tiêu chưa được làm rõ dẫn đến sử dụng còn nhiều hạn chế, kém hiệu quả và đặc biệt là chưa đảm bảo an toàn lao động cho người và liên hợp máy. Việc nghiên cứu cải tiến c 5 để sử dụng hợp lý các loại máy kéo này trong sản xuất nông lâm nghiệp là rất cần thiết. Trong khi chúng ta chưa đủ khả năng để trang bị nhập các máy chuyên dùng, việc nghiên cứu cải tiến để nâng cao tính năng kỹ thuật của máy kéo, các bộ phận làm việc lắp trên máy kéo, các thông số kết cấu cho phù hợp với điều kiện sử dụng trong lâm nghiệp sẽ có ý nghĩa không nhỏ cho sản xuất lâm nghiệp tại những nơi đang dùng máy kéo bánh hơi nông nghiệp phổ biến hiện nay. Tình hình nghiên cứu và sử dụng máy kéo trong lâm nghiệp trên thế giới Vào những năm 1950 Tiệp Khắc (cũ) đã đưa vào sử dụng loại máy kéo bánh hơi LKT - 80, máy được trang bị tời, thuỷ lực có thể gom gỗ từ xa và vận xuất gỗ theo phương pháp nửa lết, đây là loại máy kéo khung gập 4 bánh chủ động [21], [26]. Ở Phần Lan, việc sử dụng máy kéo nông nghiệp cho công tác trồng, chăm sóc rừng, vận xuất, vận chuyển gỗ được bắt đầu từ những năm 1950 và cho thấy năng suất và hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy sử dụng loại máy kéo này để vận xuất, vận chuyển gỗ tại các nước này được tăng nhanh. Từ 1957, Liên Xô đã sử dụng các loại máy kéo bánh hơi TT - 1, T-210, K210, K703, T - 127 để vận xuất, vận chuyển gỗ và cho thấy có thể sử dụng máy kéo bánh hơi vận chuyển gỗ từ nơi chặt hạ ra bãi 2, giảm bớt được khâu trung gian trong dây truyền khai thác và vận xuất [21], [26]. Việc sử dụng máy kéo nông nghiệp bánh hơi để vận xuất gỗ được nhiều nước như: Thuỵ Điển, Na Uy, Italia, Australia, Newzealand… áp dụng rộng rãi, nhất là trong trang trại quy mô vừa và nhỏ. Ở Canada từ năm 1963 đã sử dụng máy kéo Timberjack 201 để vận xuất gỗ trên địa hình dốc tương đối lớn rất phù hợp [21], [26]. c 6 Trong khi máy kéo nông nghiệp được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong lâm nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển thì hầu hết các nước đang phát triển lĩnh vực này còn hiểu biết rất ít. Để khuyến cáo và đẩy mạnh việc sử dụng máy kéo nông nghiệp trong hoạt động sản xuất lâm nghiệp ở các nước đang phát triển, tổ chức FAO đã thực hiện hàng loạt các nghiên cứu, chuyên đề ở các vùng khác nhau trên thế giới về lĩnh vực sử dụng máy kéo nông nghiệp trong khai thác gỗ rừng trồng. Năm 1986 tại Tanzania tổ chức FAO đã triển khai nghiên cứu và sử dụng máy kéo bánh hơi Valmet có công suất 50 Kw trong vận xuất gỗ, khẳng định máy kéo nông nghiệp có thể làm việc tốt trên địa hình rừng trồng tương đối bằng phẳng [41]. Cùng năm 1986 tại Ethiopia, tổ chức FAO đã triển khai nghiên cứu, sử dụng máy kéo bánh hơi Volvo vận xuất gỗ rừng trồng, khẳng định máy kéo nông nghiệp có trang bị tời, rơ moóc cũng phù hợp và mang lại hiệu quả kinh tế cao [32].
Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh phát triển cơ giới hóa ngành lâm nghiệp tại Việt Nam, việc sử dụng máy kéo nông nghiệp MTZ-80 để vận xuất và vận chuyển gỗ trên địa hình phức tạp, mấp mô là phổ biến. Theo khảo sát, mặt đường vận chuyển lâm sản có độ mấp mô trung bình khoảng 0,1 m với bước sóng 1,6 m, gây ra các dao động lớn tác động lên máy kéo và người lái. Những dao động này ảnh hưởng trực tiếp đến độ êm dịu, tính ổn định của máy kéo cũng như sức khỏe người điều khiển, làm giảm năng suất lao động và tăng nguy cơ bệnh nghề nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát dao động của ghế ngồi người lái trên máy kéo MTZ-80 khi vận hành trong điều kiện lâm nghiệp, từ đó đề xuất giải pháp giảm xóc phù hợp nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng máy kéo.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào liên hợp máy kéo MTZ-80 và rơmoóc một trục chở gỗ, khảo sát dao động khi di chuyển trên đường vận xuất có dạng mấp mô điều hòa tại một số địa bàn lâm nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực trong việc cải tiến thiết bị cơ giới hóa nông lâm nghiệp, góp phần nâng cao điều kiện làm việc cho người lái, giảm thiểu tổn hại thiết bị và tăng hiệu quả sản xuất. Các chỉ số dao động được đánh giá dựa trên tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5126-90 về giá trị rung cho phép tại chỗ làm việc, làm cơ sở để thiết kế hệ thống giảm xóc cho ghế ngồi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết và mô hình sau:
- Lý thuyết động lực học hệ nhiều bậc tự do: Áp dụng phương trình Lagrange loại II để xây dựng hệ phương trình vi phân dao động của liên hợp máy kéo và rơmoóc, mô tả dao động thẳng đứng và dao động quay quanh các trục ngang, dọc.
- Mô hình dao động của ghế ngồi người lái: Xem ghế và người lái như một khối lượng tập trung, kết hợp với phần tử đàn hồi (lò xo) và giảm chấn thủy lực, mô hình hóa dao động của ghế như hệ một bậc tự do chịu kích động động lực.
- Tiêu chuẩn rung TCVN 5126-90: Là cơ sở đánh giá mức độ an toàn về rung động tác động lên người lái, quy định giá trị gia tốc và vận tốc rung cho phép theo tần số và thời gian tác động.
Các khái niệm chính bao gồm: dao động thẳng đứng (Z), dao động lắc dọc (α2), dao động lắc ngang (β2), biên độ vận tốc và gia tốc dao động, hệ số truyền dao động, và các thông số giảm xóc (độ cứng lò xo cg, hệ số cản động học kg).
Phương pháp nghiên cứu
- Nguồn dữ liệu: Sử dụng số liệu thực nghiệm và tham khảo các nghiên cứu trước về dao động của máy kéo MTZ-80 và rơmoóc chở gỗ, cùng các thông số kỹ thuật của máy kéo và bánh lốp.
- Phương pháp phân tích: Giải hệ phương trình vi phân dao động tuyến tính bằng phần mềm toán học Mathematica 5.1, xây dựng mô hình toán học dao động ghế ngồi dựa trên cơ học giải tích.
- Timeline nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2010, tập trung khảo sát dao động trong các trạng thái vận tốc từ 5 đến 20 km/h, với các điều kiện tải trọng khác nhau, phân tích ảnh hưởng dao động đến người lái và đề xuất hệ thống giảm xóc phù hợp.
Cỡ mẫu nghiên cứu là liên hợp máy kéo MTZ-80 và rơmoóc một trục chở gỗ, lựa chọn phương pháp phân tích dựa trên mô hình toán học và tiêu chuẩn an toàn rung động Việt Nam nhằm đảm bảo tính chính xác và thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Dao động của liên hợp máy kéo MTZ-80 trên đường mấp mô:
- Khi bánh xe bên trái và bên phải lệch pha nhau nửa chu kỳ bước sóng, dao động thẳng đứng và lắc dọc tại vị trí ghế ngồi gần như bằng 0, không ảnh hưởng đáng kể đến người lái.
- Khi bánh xe đồng pha, dao động thẳng đứng và lắc dọc tăng lên rõ rệt, biên độ dao động ghế ngồi đạt giá trị lớn nhất.
-
Ảnh hưởng vận tốc và tải trọng đến dao động ghế:
- Tăng vận tốc từ 5 km/h đến 15 km/h làm biên độ vận tốc và gia tốc dao động ghế tăng mạnh, vượt giá trị cho phép theo TCVN 5126-90 từ 6 đến 96 lần.
- Khi vận tốc vượt 15 km/h, biên độ dao động có xu hướng giảm nhẹ nhưng vẫn vượt mức an toàn.
- Tăng tải trọng rơmoóc làm giảm biên độ dao động ghế, tuy nhiên dao động vẫn ở mức cao khi vận tốc lớn.
-
Tần số dao động và thời gian tác động:
- Tần số dao động thẳng đứng tại ghế ngồi dao động trong khoảng 1,8 Hz đến 3,4 Hz, nằm trong vùng gây cộng hưởng và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người lái.
- Thời gian tác động dao động trong một ca làm việc khoảng 60 phút liên tục trên đường vận xuất, đủ để gây mệt mỏi và bệnh nghề nghiệp.
-
Đánh giá mức độ an toàn:
- Biên độ vận tốc và gia tốc dao động thực tế vượt xa giới hạn cho phép của tiêu chuẩn Việt Nam, đặc biệt ở vận tốc 10 km/h và 15 km/h, cho thấy điều kiện làm việc hiện tại không đảm bảo an toàn cho người lái.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính của dao động lớn là do đặc điểm địa hình lâm nghiệp với mặt đường mấp mô cao, kết hợp với cấu trúc liên hợp máy kéo và rơmoóc chưa được tối ưu về hệ thống treo. So với các nghiên cứu quốc tế, máy kéo bánh hơi nông nghiệp thường có hệ thống giảm xóc chưa phù hợp với điều kiện địa hình Việt Nam, dẫn đến dao động vượt mức cho phép. Kết quả nghiên cứu phù hợp với các công trình trước đây về ảnh hưởng dao động đến sức khỏe người lái và hiệu quả làm việc của máy kéo.
Việc phân tích chi tiết các thành phần dao động (thẳng đứng và lắc dọc) cho phép tập trung cải tiến hệ thống giảm xóc ghế ngồi, thay vì thay đổi toàn bộ hệ thống treo máy kéo vốn phức tạp và tốn kém. Dữ liệu có thể được trình bày qua các biểu đồ dao động biên độ, vận tốc và gia tốc theo vận tốc máy kéo, giúp trực quan hóa mức độ vượt ngưỡng an toàn.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Lắp đặt hệ thống giảm xóc cho ghế ngồi người lái
- Thiết kế và lắp đặt bộ giảm chấn thủy lực kết hợp lò xo có độ cứng và hệ số cản phù hợp với đặc tính dao động của máy kéo MTZ-80.
- Mục tiêu giảm biên độ vận tốc và gia tốc dao động xuống dưới giới hạn cho phép theo TCVN 5126-90.
- Thời gian thực hiện: 6-12 tháng, chủ thể thực hiện là các đơn vị nghiên cứu và nhà sản xuất thiết bị cơ giới.
-
Giới hạn vận tốc làm việc của máy kéo trên đường vận xuất
- Khuyến cáo vận tốc tối ưu từ 5 đến 12 km/h để giảm thiểu dao động vượt mức cho phép, đồng thời đảm bảo năng suất hợp lý.
- Chủ thể thực hiện: người vận hành và quản lý sản xuất.
-
Nâng cao chất lượng mặt đường vận xuất lâm nghiệp
- Cải tạo, san lấp mặt đường để giảm độ mấp mô trung bình dưới 0,05 m, giảm nguồn kích động dao động.
- Chủ thể thực hiện: các cơ quan quản lý lâm nghiệp và địa phương.
-
Đào tạo và nâng cao nhận thức người lái máy kéo
- Tổ chức các khóa huấn luyện về tác hại của dao động và cách vận hành máy kéo an toàn, hiệu quả.
- Chủ thể thực hiện: các trung tâm đào tạo nghề và doanh nghiệp sử dụng máy kéo.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Các nhà nghiên cứu và kỹ sư cơ khí nông lâm nghiệp
- Lợi ích: Áp dụng mô hình và phương pháp phân tích dao động để thiết kế, cải tiến máy kéo và thiết bị giảm xóc.
- Use case: Phát triển sản phẩm máy kéo phù hợp với điều kiện địa hình Việt Nam.
-
Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh máy kéo, thiết bị cơ giới
- Lợi ích: Nắm bắt các thông số kỹ thuật và giải pháp giảm rung để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn.
- Use case: Thiết kế ghế ngồi giảm rung cho máy kéo MTZ-80 và các loại máy tương tự.
-
Người vận hành và quản lý sản xuất lâm nghiệp
- Lợi ích: Hiểu rõ tác động của dao động đến sức khỏe và hiệu quả làm việc, từ đó điều chỉnh vận tốc và phương pháp vận hành.
- Use case: Áp dụng các khuyến nghị vận hành an toàn, giảm thiểu bệnh nghề nghiệp.
-
Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách ngành lâm nghiệp
- Lợi ích: Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định vận hành và cải tạo hạ tầng vận xuất gỗ.
- Use case: Ban hành các quy chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn vận hành máy kéo trong lâm nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao dao động của ghế ngồi người lái lại quan trọng trong vận hành máy kéo?
Dao động ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lái, gây mệt mỏi, giảm năng suất và có thể dẫn đến bệnh nghề nghiệp. Ngoài ra, dao động lớn còn làm giảm tuổi thọ thiết bị và độ chính xác vận hành. -
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ dao động của máy kéo MTZ-80?
Bao gồm đặc điểm địa hình (độ mấp mô mặt đường), vận tốc di chuyển, tải trọng rơmoóc, và thiết kế hệ thống treo của máy kéo và ghế ngồi. -
Giải pháp giảm xóc cho ghế ngồi được thiết kế như thế nào?
Sử dụng hệ thống lò xo kết hợp giảm chấn thủy lực có độ cứng và hệ số cản được tính toán dựa trên mô hình dao động, nhằm giảm biên độ vận tốc và gia tốc dao động xuống dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn. -
Vận tốc làm việc tối ưu của máy kéo trên đường vận xuất là bao nhiêu?
Khuyến cáo vận tốc từ 5 đến 12 km/h để đảm bảo dao động không vượt quá giới hạn an toàn, đồng thời duy trì hiệu quả sản xuất. -
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5126-90 quy định gì về giá trị rung cho phép?
Tiêu chuẩn quy định giá trị gia tốc và vận tốc rung cho phép tại chỗ làm việc trong dải tần số từ 0,7 đến 90 Hz, với các giới hạn khác nhau tùy theo phương dao động và thời gian tác động, nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động.
Kết luận
- Đã xây dựng và giải hệ phương trình vi phân dao động của liên hợp máy kéo MTZ-80 và rơmoóc chở gỗ trên đường vận xuất lâm nghiệp có độ mấp mô trung bình 0,1 m.
- Xác định dao động thẳng đứng và lắc dọc là hai thành phần chính ảnh hưởng đến ghế ngồi người lái, trong khi dao động lắc ngang không đáng kể.
- Kết quả cho thấy biên độ vận tốc và gia tốc dao động vượt quá giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn TCVN 5126-90 từ 6 đến 96 lần, đặc biệt ở vận tốc 10-15 km/h.
- Đề xuất lắp đặt hệ thống giảm xóc cho ghế ngồi với các thông số kỹ thuật phù hợp để giảm rung động, đồng thời khuyến cáo vận tốc làm việc tối ưu dưới 12 km/h.
- Nghiên cứu mở hướng cho việc cải tiến thiết bị cơ giới hóa lâm nghiệp, nâng cao điều kiện làm việc và sức khỏe người lái.
Next steps: Triển khai thiết kế và thử nghiệm hệ thống giảm xóc ghế ngồi, đồng thời khảo sát thực tế hiệu quả giảm rung trong điều kiện vận hành thực tế. Kêu gọi các đơn vị sản xuất và quản lý ngành lâm nghiệp phối hợp thực hiện.
Call-to-action: Các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ giới hóa nông lâm nghiệp nên áp dụng kết quả nghiên cứu để cải tiến thiết bị, nâng cao an toàn và hiệu quả sản xuất.