mở đầu được lựa chọn để trở thành điểm khởi đầu trong việc phát triển RCPs, và được phát hành trong thay đổi khí hậu cung cấp những thông tin chi tiết trong việc phát triển hơn nữa những bước trong kịch bản của quá trình RCP (ví dụ cơ sở hài hòa khí thải của năm và việc sử dụng đất) và hướng dẫn sử dụng RCPs. Biểu hiện của BĐKH ở Việt Nam Ở Việt Nam, xu thế biến đổi của nhiệt độ và lượng mưa rất khác nhau trên các vùng trong 50 năm qua. Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0.5°C trên phạm vi cả nước và lượng mưa năm có xu hướng giảm ở nửa phần phía Bắc, tăng ở phía Nam lãnh thổ. Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng cho mùa đông), nhiệt độ tháng VII (tháng đặc trưng cho mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả nước trong 50 năm qua.
Nhiệt độ vào mùa đông tăng nhanh hơn so với vào mùa hè và nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo. Vào mùa đông, nhiệt độ tăng nhanh hơn cả là Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (khoảng 1. Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam 17 Bộ có nhiệt độ tháng I tăng chậm hơn so với các vùng khí hậu phía Bắc (khoảng 0. Tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta đã tăng lên 1.
Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng 0.5°C/50 năm trên tất cả các vùng khí hậu của nước ta. Nhiệt độ trung bình năm tăng 0.6°C/50 năm ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng 0. Lượng mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng lên chút ít hoặc không thay đổi đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua. Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến trên 10% trên đa phần diện tích phía Bắc nước ta và tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua.
Xu thế diễn biến của lượng mưa năm hoàn toàn tương tự như lượng mưa mùa mưa, tăng ở các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc. Khu vực Nam Trung Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua. Số liệu mực nước quan trắc cho thấy xu thế biến đổi mực nước biển trung bình năm không giống nhau tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam. Trên dải ven biển Việt Nam, mặc dù ở hầu hết các trạm mực nước trung bình năm có xu hướng tăng, tuy nhiên, ở một số trạm lại có xu hướng mực nước giảm.
Mức biến đổi trung bình của mực nước biển dọc bờ biển Việt Nam khoảng 2. Số liệu mực nước đo đạc từ vệ tinh từ năm 1993 đến 2010 cho thấy, xu thế tăng mực nước biển trên toàn biển Đông là 4.7mm/năm, phía Đông của biển Đông có xu thế tăng nhanh hơn phía Tây. Chỉ tính cho dải ven bờ Việt Nam, khu vực ven biển Trung Trung Bộ và Tây Nam Bộ có xu hướng tăng mạnh hơn, trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam tăng khoảng 2. 18 CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM LƯU VỰC SÔNG SÊ SAN VÀ PHÂN TÍCH LỰA CHỌN MÔ HÌNH TÍNH TOÁN TRONG LUẬN VĂN 2.
Đặc điểm địa lý tự nhiên 2. Vị trí địa lý Sông SeSan là một trong các chi lưu lớn của sông Mê Kông. Toàn bộ lưu vực nằm trong tọa độ địa lý 13o45’ đến 15 o 14’ vĩ độ Bắc; toạ độ 107 o 10’ đến 108 o 24’ kinh độ Đông. Được bắt nguồn từ vùng núi cao Ngọc Linh tỉnh Kon Tum thuộc phía Bắc Tây Nguyên của Việt Nam, chảy sang Campuchia và sau nhập lưu với hạ lưu các sông Srêpôk, SêKông sau đó nhập vào sông Mê Kông ở StrungTreng.
Hình 5: Bản đồ vị trí lưu vực sông SeSan 19 Trên lãnh thổ Việt Nam, sông SeSan nằm trên 2 tỉnh Kon Tum và Gia Lai với chiều dài 230km, diện tích lưu vực trên lãnh thổ Việt Nam là 11. Lưu vực có ranh giới với các sông: Phía Bắc giáp sông Thu Bồn; phía Nam giáp sông Ba, IaĐrăng; phía Đông giáp sông Trà Khúc, Sông Ba; phía Tây giáp Lào và Camphuchia. Lưu vực sông SeSan trên lãnh thổ Việt Nam chiếm 46,3% diện tích tự nhiên của 2 tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trong đó nằm trên địa phân của Kon Tum 87,6% diện tích toàn tỉnh, Gia Lai 20,63%. Đặc điểm địa hình Địa hình của lưu vực thuộc dạng núi cao và trung bình, hướng dốc chính Đông Bắc – Tây Nam.
Độ cao phổ biến của lưu vực phần thượng nguồn từ 800 – 1000m, phần hạ lưu 400 – 600m. Nhìn chung địa hình trong cùng biến đổi khá phức tạp và bị chia cắt mạnh mẽ có thể chia thành 3 dạng địa hình chính: 2. Địa hình núi cao Phân bố ở phía Bắc lưu vực, độ cao dao động từ 800 đến 2000m. Khối núi phía Bắc và Đông là nhánh núi kéo dài của dẫy Trường Sơn gồm những ngọn núi cao trung bình 1200 - 1800m, với đỉnh núi cao nhất là ngọn núi Ngọc Linh(2.
Kế tiếp khối núi phía Tây chạy dọc biên giới Việt - Lào - Campuchia từ Bắc xuống Nam từ cao độ 1000m - 500m. Đặc điểm này tạo cho vùng có lượng mưa khá phong phú. Địa hình cao nguyên Phân bố ở phía Nam lưu vực, đây là vùng đồi thấp có dạng bát úp kế tiếp nhau nhưng không được liên tục bời sự chia cắt của các sông, suối nhỏ. Lớp phủ thực vật chủ yếu là các bụi cây lúp xúp độ cao phổ biến 500 - 600m.
Đây là vùng có tiềm năng đất nông nghiệp của lưu vực, đất đai tốt có tầng canh tác dày rất thích hợp với sự phát triển của cây công nghiệp ngắn và dài ngày. Địa hình thung lũng 20 Phân bố chủ yếu dọc theo các con sông lớn như sông Đắc Bla, Đắc Pơ Tông, đã tạo ra những vùng địa hình tương đối bằng phẳng thích hợp với sợ phát triển của cây lương thực và hoa màu. Tỉnh Kon Tum Kon Tum nằm trong địa khối cổ phía nam hay gọi là địa khối cổ Kon Tum. Nền địa chất được cấu tạo từ 4 nhóm đá mẹ chủ yếu: Nhóm đá Macma axit, nhóm đá sét biến chất, nhóm đá Macma kiềm, nhóm nền địa chất bồi, dốc tụ.
Tỉnh Gia Lai GiaLai nằm trên một phần của nền đá cổ rộng lớn, dày trên 4.000 m, thuộc Địa khối Kon Tum. Cuối kỷ Nêogen sang kỷ Đệ Tứ (cách ngày nay khoảng 1,6 triệu đến 0,7(triệu năm) các chuyển động tân kiến tạo làm vỏ trái đất nứt khá sâu, khiến các núi lửa hoạt động mạnh, phun các lớp bazan phủ dày từ vài chục đến 500m. Dung nham núi lửa đã lấp đầy các hố trũng của bề mặt địa hình, tạo nên cao nguyên rộng lớn và khá bằng phẳng. Thổ nhưỡng 2.
Tỉnh Kon Tum Đất đai tỉnh KonTum có 5 nhóm đất gồm 16 đơn vị đất, trong đó nhóm đất đỏ vàng và nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi chiếm khoảng 96% tổng diện tích, phân bố theo các nhóm đất sau: - Nhóm đất phù sa: diện tích 16.663 ha chiếm tỷ lệ 1,73%. - Nhóm đất xám bạc màu: diện tích là 5. - Nhóm đất đỏ vàng: diện tích 579. - Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: diện tích 343.
- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ: diện tích 1. Tỉnh Gia Lai Tỉnh Gia Lai có 26 loại đất, gồm 7 nhóm chính: 21 - Nhóm đất phù sa có diện tích 46.430 ha, chiếm 3% diện tích tự nhiên, phân bố ở nơi có địa hình bằng phẳng, gần nguồn nước (sông suối lớn), tầng đất dày. Đây là loại đất tốt, thích hợp cho việc trồng các loại rau, hoa màu, lương thực. - Nhóm đất xám có diện tích 364.806 ha, chiếm 23,55% diện tích tự nhiên, tập trung thành vùng dọc theo sông Ba, sông Ayun ở tây nam huyện Chư Prông và các huyện, thị: An Khê, Đăk Pơ, Ayun Pa, Ia Pa.
Đất có thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, khả năng giữ chất dinh dưỡng kém nên nghèo dinh dưỡng. Loại đất này thích hợp với những loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, vừng, sắn, thuốc lá, đậu đỗ các loại hoặc trồng rừng để giữ đất. - Nhóm đất đen có tổng diện tích 27.870 ha, chiếm 1,8% diện tích tự nhiên, phhân bố chủ yếu ở các huyện Mang Yang, Chư Prông, Chư Sê và Đức Cơ. Trên diện tích này thích hợp cho việc trồng rừng, khôi phục thảm thực vật để bảo vệ đất.
- Nhóm đất đỏ vàng có diện tích 781.765 ha, chiếm 50,44% diện tích tự nhiên, tập trung ở các huyện trên cao nguyên Pleiku và cao nguyên Kon Hơnờng, thích hợp cho việc trồng các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, hồ tiêu, cao su và cây công nghiệp ngắn ngày, hoa màu, lương thực. - Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi có diện tích 175.582 ha chiếm 11,35% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở vùng núi phía bắc và đông bắc tỉnh, có độ cao từ 1000 m trở lên. Loại đất này chủ yếu dành cho phát triển lâm nghiệp. - Nhóm đất thung lũng dốc tụ có diện tích 14.140 ha, chiếm 0,91% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở độ cao từ 300 - 700 m, độ dốc từ 3 – 8%, trên địa bàn các huyện Mang Yang, Chư Sê, vùng Ayun Pa và thành phố Pleiku.
- Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá có diện tích 113.423 ha, chiếm 7,32% diện tích tự nhiên, tập trung ở các huyện thị: An Khê, Ayun Pa, Phú Thiện, Krông Pa. Nhóm đất này không có khả năng khai thác để phất triển nông nghiệp, thích hợp cho việc trồng rừng bảo vệ đất. Đặc điểm thủy văn 2. Đặc điểm mạng lưới sông suối 22 Sông SeSan có mật độ lưới sông vào loại trung bình.
Đổ vào dòng chính Sê San có 27 nhánh sông suối lớn nhỏ, những nhánh lớn đổ vào dòng chính Sê San phải kể đến là các nhánh Đak Psi, Đak Bla, Prông Pôkô và Sa Thầy. Các nhánh chính của sông SeSan là : - Sông Đak Bla là nhánh trái của sông SeSan có diện tích lưu vực 3507km, bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Cơ Rinh cao 2025m. Sông Đak Bla chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam và hợp với sông Sê San cách Ya Ly 16km về phía hạ lưu.