CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN- KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC NGHIÊN CỨU I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN I. Vị trí địa lý Lưu vực sông Mã với tổng diện tích 28.400 km2 nằm trên địa bàn của 2 nước: Việt Nam và Lào, được giới hạn từ 22o37’30” đến 20o05’00” độ vĩ bắc, 103o05’00” đến 106o05’10” độ kinh đông. Phía Bắc giáp với lưu vực sông Đà và sông Bôi; Phía Tây giáp lưu vực sông Mê Kông; Phía Nam giáp lưu vực sông Hiếu và sông Yên; Phía Đông là Biển Đông.
Hình 1: Bản đồ lưu vực sông Mã (địa phận tỉnh Thanh Hóa) Học viên: Vũ Kim Thắng 12 Đề tài: Nghiên cứu đánh giá tác động của các hồ chứa thượng nguồn đến chế độ thủy văn thủy lực vùng hạ lưu sông Mã Sông bắt nguồn từ dãy núi Bon Kho có độ cao 2178 m thuộc huyện Tuần Giáo tỉnh Lai Châu. Sông chảy qua 5 tỉnh trong nước là: Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Nghệ An, Thanh Hoá và tỉnh Sầm Nưa của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào rồi đổ ra Biển Đông tại Cửa Hới (Lạch Trào) và 2 cửa phụ là Lạch Trường và Lạch Sung. Đặc điểm địa hình Lưu vđiểsông Mã trải rộng trên nhiều tỉnh thuộc hai nước Việt Nam, Lào và chạy dài từ đỉnh Trường Sơn đến Vịnh Bắc Bộ nên địa hình trên lưu vực rất đa dạng. Hướng dốc chính của địa hình theo hưo hưểsông Mã trải rộng trên nhiều tỉnh thuộc hai nước V,0 m.
Có ththg Ma địa hình sông Mã thành 3 dạng chính: a. Địa hình núi cao Dạng địa hình này nằm ở thượng nguồn lưu vực sông: Phần sông Mã từ Bá Thước trở lên thượng nguồn, phần sông Chu từ Cửa Đạt trở lên thượng nguồn, diện tích khoảng 23.228 km2 chiếm tới 80% diện tích toàn lưu vực. Đỉnh cao nhất là núi Phu Lan 2.275 m, độ cao giảm dần theo hướng Bắc - Nam. Trên địa hình này chủ yếu là cây lâm nghiệp, đất nông nghiệp chỉ khoảng 75.968 ha chiếm 3,26% (diện tích hiện đang canh tác 51.
Trong vùng này có nhiều thung lũng sông có khả năng xây dựng các kho nước lợi dụng tổng hợp phục vụ cho phát triển kinh tế hạ du. Địa hình gò đồi Tập trung chủ yếu ở các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lạc, Triệu Sơn, Thọ Xuân thuộc tỉnh Thanh Hoá, Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thuỷ (tỉnh Hoà Bình). Dạng địa hình này có cao độ từ 150m đến 20m, diện tích mặt bằng khoảng 3.305 km2 chiếm 11,75% diện tích lưu vực. Đây là vùng có tiềm năng lớn để phát triển cây công nghiệp, cây đặc sản với diện tích đất nông nghiệp 85.100 ha, diện tích hiện đang canh tác 58.
Vùng gò đồi có nhiều sông suối nhỏ có khả năng xây dựng các hồ chứa tưới và cấp nước tại chỗ. Địa hình đồng bằng và đồng bằng ven biển Dạng địa hình này nằm trọn vẹn trong tỉnh Thanh Hoá có cao độ từ +20 ÷ +1. Do sự chia cắt của các sông suối mà tạo nên các vùng đồng bằng như Vĩnh Lộc( hạ du sông Bưởi), Nam sông Mã - Bắc sông Chu, Bắc sông Lèn, Nam sông Lèn và đặc biệt khu hưởng lợi Nam sông Chu. Học viên: Vũ Kim Thắng 13 Đề tài: Nghiên cứu đánh giá tác động của các hồ chứa thượng nguồn đến chế độ thủy văn thủy lực vùng hạ lưu sông Mã Bảng 1: Diện tích mặt bằng theo địa giới hành chính và địa hình lưu vực sông Mã Đơn vị: ha Đất khả Đất khả Diện tích Thuộc dạng địa TT Đơn vị hành chính năng nông năng lâm tự nhiên hình nghiệp nghiệp I CHDCND Lào 109.063 Vùng núi cao II CHXHC Việt Nam 1.452 Vùng núi cao 2 Sơn La 477.115 Vùng núi cao 3 Hoà Bình 177.527 Vùng đồi - núi 4 Nghệ An 62.000 Vùng núi Đồng bằng - đồi - 5 Thanh Hoá 823.893 núi Đồng bằng - đồi III Khu hưởng lợi 185.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng a.
Đặc điểm chung Đới kiến tạo sông Mã là một miền cổ trước kỷ ĐêVon bị các đứt gãy rìa tạo khối các đới Mường Tè và Điện Biên. Ở phía Tây và Đông, Sơn La - Thanh Hoá ở phía Đông. Đặc điểm chủ yếu là sự phát triển rộng rãi của những trầm tích cổ Proteozoi bị tầng Patezoi hạ phủ không chỉnh hợp lên trên. Đường phương của các lớp phủ gần nhau nhưng không trùng nhau.
Các bậc của đưói có các tàn dư của trầm tích ĐêVôn Trung nằm không chỉnh hợp rõ rệt. Đới kiến tạo Thanh Hoá là một nếp lồi rộng không đối xứng. Thành tạo Proteozoi mà đới sông Mã nằm rất ổn định và yên tĩnh tạo nên những nếp uốn đơn giản. Phần trung tâm của đới sông Mã, các trầm tích Proteozoi tạo nên một đứt gãy và các phá huỷ bổ sung nằm ở trục của đới.
Ở phía nam của đới các hệ thống Proteozoi chiều sâu đứt gãy rìa xuống dưới các thành tạo Pateozoi - Merozoi của đới Thanh Hoá. Sau đó lại trồi lên bề mặt ở ven biển Sầm Sơn. Đới Thanh Hoá có dạng một tam giác châu và ở giữa đới lắng đọng chủ yếu là Học viên: Vũ Kim Thắng 14 Đề tài: Nghiên cứu đánh giá tác động của các hồ chứa thượng nguồn đến chế độ thủy văn thủy lực vùng hạ lưu sông Mã trầm tích Merozoi Sơn La và Sầm Nứa. Nhóm của nếp lồi Thanh Hoá được tạo thành bởi tầng Proteozoi và hệ tầng Paleozoi sớm Đông Sơn phát triển rộng rãi ở thị xã Thanh Hoá.
Tàn tích Paleozoi Hạ thành những nếp uốn nhỏ và dốc. Đới sông Mã phát triển nhiều đứt gãy theo một hệ thống Tây Bắc - Đông nam kéo dài dọc theo dòng chảy sông Mã. Địa chất công trình Từ thượng nguồn tới Bá Thước, thượng sông Chu tới Cửa Đạt, thượng sông Bưởi tới Vụ Bản. Phân bố nham thạch trong các đoạn này chủ yếu là trầm tích lục nguyên Macma xen kẽ đá vôi.
Đoạn từ Bá Thước tới cửa sông Mã, từ Vụ Bản tới Vĩnh Khang (sông Bưởi), từ Cửa Đạt tới Bái Thượng (sông Chu) sông có nhiều bãi bồi, tầng đá gốc nằm sâu. Đoạn này có thể xem là sự kéo dài của các đoạn trên nhưng đã chìm xuống dưới nếp phủ. Tầng phủ ở đây dày 15 - 20m. Địa chất thuỷ văn Nước chứa trong khe nứt vỉa và trầm tích lục nguyên.
Nguồn cấp chủ yếu là nước mưa, lưu lượng từ 0,1 - 1,3 l/s,km2. Độ sâu nước ngầm phụ thuộc vào tầng phong hoá, trầm tích bề mặt. Thành phần hoá học chủ yếu là HydroCacbonNatri hay có Sulfas, Natri. Nước chứa trong khe nứt của đá biến chất chủ yếu là đới chứa nước phong hoá và khe nứt kiến tạo, lưu lượng từ 0,1 - 0,5 l/s,km2.
Thành phần hoá học nước thuộc loại HydroCacbonat - Natri - Kali. Nguồn cung cấp chủ yếu là nước mưa. Thổ nhưỡng Đất đai trên lưu vực sông Mã gồm 40 loại đất (trong số 60 loại đất của cả nước) và phân bố theo 11 nhóm như sau: - Đất cát và cồn cát ven biển: Nhóm đất này khoảng 15.000ha chủ yếu là phân bố ở các huyện như Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoàng Hoá, Quảng Xương. Đất này được sử dụng để trồng cây chắn gió.
Đất cát vùng màu Nga Sơn, ven kênh De thuộc Hậu Lộc, đuôi kênh tưới của hệ thống Hoàng Khánh kết cấu mùn yếu, nghèo đạm, Kali, thích hợp cây trồng cạn. Học viên: Vũ Kim Thắng 15 Đề tài: Nghiên cứu đánh giá tác động của các hồ chứa thượng nguồn đến chế độ thủy văn thủy lực vùng hạ lưu sông Mã - Nhóm đất mặn: Nằm ở ven biển nơi khai hoang, lấn biển sông Mã, sông Lèn, sông Lạch Trường, kênh De, sông Cùng. Đất nhiều mùn màu đen xám nhạt, đạm cao. Đất thích hợp nuôi trồng thuỷ sản, trồng cói và các hải sản biển - Đất phèn: Đất vừa bị mặn, chua có diện tích 6.
Kết cấu rắn do phù sa lắng đọng. Đất tập trung chủ yếu ở sông Mã, sông Lèn. Tỷ lệ muối 0,2 - 0,4%o. Đất sử dụng để cấy lúa nhưng năng suất thấp.
- Nhóm đất phù sa: Nhóm này chiếm 79% tổng lượng đất sử dụng trong nông nghiệp. Đất phân bố chủ yếu ở hạ du sông Bưởi: Thiệu Yên, Thọ Xuân, Đông Sơn, Triệu Sơn, Nông Cống, Hà Trung, Nga Sơn, Hoàng Hoá, Hậu Lộc, Cẩm Thuỷ. Nguồn gốc thành tạo là do sự bồi đắp của phù sa các sông Mã, Bưởi, Chu, sông Đáy và sông Yên. Loại đất này phân thành từng nhóm.
Đất phù sa được bồi đắp hàng năm có độ phì khá. Đất phù sa không được bồi đắp thường xuyên, không Glây hoặc có Glây kém. + Loại đất phù sa có Glay từ trung bình tới mạnh có diện tích 60.800ha nằm ở chân ruộng trung khó tiêu. + Đất phù sa úng nước nằm ở khu lòng chảo thấp thường bị ngập khi mưa F = 13.
+ Đất phù sa loang lổ đỏ vàng có F = 24. Nguồn gốc là đất phù sa sông nhưng ở thềm cao. Do chế độ canh tác lạc hậu, đất bị bạc màu. Loại đất này nằm ở vùng giáp gianh giữa miền núi và đồng bằng.
- Nhóm đất lầy và than bùn: Diện tích khoảng 10.000 ha, phân bố chủ yếu ở trung du và miền núi có địa hình dạng thung lũng dốc tụ tạo thành. Đất phần lớn bị hoang hoá. - Nhóm đất xám bạc màu: Diện tích khoảng 32.000ha phân bố tập trung ở sườn dốc của các huyện Tân Lạc, Lạch Sơn, Thạch Thành, Vinh Lộc, Thuỷ Yên. Đất bị bạc màu, độ phì kém, sử dụng trồng lúa hoặc mía (cây công nghiệp ngắn ngày).
- Nhóm đất đen: Diện tích khoảng 17.000ha, tập trung ở các huyện sông Mã, Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lạc chủ yếu ở miền núi. Đất có hàm lượng Magiê, Canxi cao và thích hợp trồng cỏ chăn thả gia súc. - Nhóm đất đỏ vàng: Loại đất này chiếm 80% đất đồi núi có nhiều nguồn gốc tạo thành. Đất màu đỏ trên đá Macma trung tính phân bố ở đồi trọc, bát úp.
Đất màu đỏ trên đá vôi chiếm 1% diện tích. Kết cấu rời rạc, hút nước mạnh dễ hạn, phân bố ở Học viên: Vũ Kim Thắng 16 Đề tài: Nghiên cứu đánh giá tác động của các hồ chứa thượng nguồn đến chế độ thủy văn thủy lực vùng hạ lưu sông Mã các huyện miền núi như Tân Lạc, Lạc Sơn, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh. Đất này thích hợp cho trồng luồng. Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất chiếm 40% diện tích đồi núi thấp, tầng rất dày, tính chất cơ lý, hoá học tốt, thích hợp với cây công nghiệp và ăn quả.
Phần lớn loại đất này sử dụng cho lâm nghiệp. - Nhóm đất vàng đỏ trên núi: Loại đất này phân bố chủ yếu ở độ cao 700 - 1.500m chủ yếu là ở thượng nguồn sông Mã, sông Chu, sông Bưởi.