Chương 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HỆ BÁN DẪN THẤP CHIỀU 1. Giới thiệu về các hệ bán dẫn thấp chiều Các hệ bán dẫn thấp chiều là những hệ có kích thước theo một, hai hoặc cả ba chiều có thể so sánh với bước sóng De Broglie của hạt tải (điện tử, lỗ trống). Việc giải ra nghiệm của phương trình Schrodinger cho thấy chiều của hệ đóng vai trò quan trọng trong phổ năng lượng của hệ. Theo số chiều này, ta có thể được chia ra làm bốn trường hợp như sau [1]: * Trường hợp 3D (vật liệu khối): phổ năng lượng điện tử liên tục, và điện tử chuyển động gần như tự do.
* Trường hợp 2D (hố lượng tử hay giếng lượng tử): chuyển động của điện tử bị giới hạn theo một chiều có kích thước vào cỡ bước sóng De Broglie, trong khi chuyển động của điện tử tự do theo hai chiều còn lại. Phổ năng lượng bị gián đoạn theo chiều bị giới hạn. * Trường hợp 1D (dây lượng tử): điện tử bị giới hạn theo hai chiều, nó chuyển động tự do dọc theo chiều dài của dây. Phổ năng lượng gián đoạn theo hai chiều trong không gian.
* Trường hợp 0D (gần như không chiều, là chấm lượng tử): về cơ bản, điện tử bị giới hạn theo cả ba chiều trong không gian, và không thể chuyển động tự do. Các mức năng lượng bị gián đoạn theo cả ba chiều trong không gian. Một thông số quan trọng để hiểu sâu sắc hơn về phổ năng lượng do sự giảm số chiều là mật độ trạng thái , cho số trạng thái khả dĩ trên một đơn vị năng lượng. Mật độ trạng thái phụ thuộc theo căn bậc hai vào năng lượng và được cho bởi quan hệ sau [1]: 1/ 2 m* 2E 3 D 2 (1.1) 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở đây, m* là khối lượng hiệu dụng của điện tử, E là năng lượng của trạng thái điện tử.
Ngược lại, đối với giếng lượng tử, sự giới hạn điện tử trong một chiều khiến cho năng lượng là tổng của các trạng thái lượng tử hoá đi kèm với sự giam giữ: k22 n * 2 (1.2) 2m L Ở đây, n là mức năng lượng thứ n, L là độ rộng của giếng thế năng. Mật độ trạng thái trong giếng lượng tử liên quan với năng lượng này và được cho bởi: m* 2 D 2 E n (1.3) 2 n với là hàm bậc thang Heaviside. Mật độ trạng thái có dạng bậc thang, với mỗi số hạng trong tổng tương ứng có đóng góp từ vùng thứ n. Mỗi số hạng độc lập với mức m* năng lượng n , và cách nhau một khoảng.
2 2 Vật liệu Giếng Sợi lượng Chấm khối lượng tử tử lượng tử Năng lượng Năng lượng Năng lượng Năng lượng Hình 1. Sự giam giữ lượng tử dẫn đến sự thay đổi các mức năng lượng và mật độ các trạng thái từ tinh thể bán dẫn khối tới giếng lượng tử, dây lượng tử và chấm lượng tử. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mức năng lượng và mật độ trạng thái trong hệ một chiều chịu thêm một giam giữ của một điện tử. Khi đó, năng lượng toàn phần là tổng của các mức năng lượng gián đoạn theo hai chiều bị giam giữ và liên tục theo chiều dài của dây.
Điều này dẫn đến mật độ trạng thái của hệ một chiều có dạng: 1/ 2 2 m* 1D 2 2 1 n ,n E x y E n ,n x y (1.4) n ,n x y Mật độ trạng thái này rất đặc biệt vì nó phân kỳ khi động năng nhỏ (ở đáy của các tiểu vùng nx, ny) và giảm khi động năng tăng. Với hệ gần như không chiều (trường hợp của các nanô tinh thể bán dẫn, còn được gọi là các chấm lượng tử), các mức năng lượng bị gián đoạn, và với một hệ lý tưởng, mật độ trạng thái là tổng của các nx , n y , nz hàm delta: 0 D 2 E n , n , n x y z (1.3 minh họa các chiều giam giữ lượng tử và sự phụ thuộc của mật độ trạng thái vào năng lượng. Các trạng thái điện tử trong chấm lượng tử bán dẫn [21, 26] Một chấm lượng tử thường được miêu tả như là một nguyên tử nhân tạo bởi vì điện tử thì bị giam giữ về mặt chiều thì giống như là trong một nguyên tử và có các trạng thái năng lượng gián đoạn. Gần đây, đã có nhiều nỗ lực được tiến hành để có thể chế tạo ra các chấm lượng tử với các hình dáng hình học khác nhau, để có thể khống chế được hàng rào thế giam giữ các điện tử (và các lỗ trống) (Williamson, 2002).
Các mức năng lượng gián đoạn sinh ra các phổ hấp thụ và phát xạ hẹp và nhọn đối với các chấm lượng tử, thậm chí tại nhiệt độ phòng. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng điều này là lý tưởng, và các phổ do dịch chuyển quang học cũng bị mở rộng đồng nhất và bất đồng nhất. Do tỷ lệ lớn giữa thể tích và diện tích bề mặt của các nguyên tử của các chấm lượng tử, nên các chấm lượng tử còn biểu lộ các hiện tượng liên quan đến bề mặt. Các chấm lượng tử thường được miêu tả theo ngôn ngữ của mức độ giam giữ.
Chế độ giam giữ mạnh được xác định cho trường hợp khi kích thước của chấm lượng nhỏ hơn bán kính Bohr exciton (aB). Khi này, sự phân chia năng lượng giữa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các vùng (sub-bands) - là sự biến đổi các mức của các điện tử và các lỗ trống - được lượng tử hoá, thì rất lớn hơn là năng lượng liên kết exciton. Bởi thế, các điện tử và các lỗ trống thì thường được biểu diễn bằng các trạng thái năng lượng của các vùng sub-bands của chúng. Khi kích thước của chấm lượng tử tăng, sự phân chia năng lượng giữa các vùng sub-bands trở nên so sánh được, một cách hiển nhiên với năng lượng liên kết exciton.
Đây là trường hợp của chế độ giam giữ yếu, khi kích thước của chấm lượng tử thì lớn hơn bán kính Bohr exciton. Năng lượng liên kết điện tử - lỗ trống trong trường hợp này thì gần như là trong bán dẫn khối. Để bắt đầu xem xét về một vài tính chất của các hạt lượng tử thì cần xem xét các điện tử trong tinh thể, ở đây, cần nhớ lại bài toán từ cơ lượng tử cơ bản, là một hạt trong một giếng thế năng. Chúng ta bắt đầu với hạt trong một giếng thế năng một chiều [23].
Phương trình Schrodinger độc lập về thời gian liên quan có thể viết là: 2 2 ( x) U ( x) ( x) E ( x) (1.6) 2m x 2 ở đây m là khối lượng của hạt, E là năng lượng hạt, và thế năng U(x) được xem là giếng hình trụ với độ cao thành giếng là không xác định, nó là: 0 khi x a / 2 U ( x) (1.7) khi x a/2 Trong phương trình trên, a ký hiệu cho độ rộng của giếng. Đã được biết từ cơ lượng tử là từ phương trình Schrodinger ở trên (1.6) có lời giải các loại chẵn và lẻ. Kết quả quan trong nhất của bài toán là một tập hợp các giá trị năng lượng gián đoạn được cho bởi công thức: 2 2 En 2 n2 (1.8) 2ma Khoảng cách giữa các mức năng lượng liền kề được cho bởi công thức: 2 2 (2n 1) En En 1 En (1.9) 2ma 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và nó tăng theo n. Các hàm sóng đối với mỗi một trạng thái năng lượng thì triệt tiêu ở x a.
Biên độ của các hàm sóng là giống nhau, và sác xuất tổng cộng để tìm thấy một hạt ở bên trong hộp chính xác là bằng một đơn vị đối với tất cả các trạng thái. Lưu ý rằng phương trình (1.8) cho ta các giá trị động năng. Bằng cách dùng quan hệ p2 giữa năng lượng E, môment p, và số sóng k là E ,p k (1.10) 2m chúng ta có thể viết các giá trị mômnet và số sóng liên quan: pn , kn n (1.11) a a các đại lượng này cũng lấy các giá trị gián đoạn. Nếu có tồn tại một hạt, thì đại lượng * phải khác 0 tại một nơi nào đó.
Như vậy, lời giải thoả mãn (1.7) với n = 0 không thể được phép, bởi vì điều này sẽ phủ nhận sự tồn tại của một hạt. Năng lượng tối thiểu mà một hạt có thể có được cho bởi 2 2 E1 (1.12) 2m a 2 Năng lượng này được gọi là năng lượng điểm zero của hạt. Nó có thể được rút ra từ kết quả của hệ thức bất định Heisenberg: px (1.13) 2 Một hạt bị giam chặt trong vùng không gian x = a. Do đó, phù hợp với (1.13), nó phải là không xác định nếu môment của nó có giá trị p .
Số hạng sau tương 2a ứng năng lượng tối thiểu p 2 2 E (1.14) 2m 8ma 2 tương tự với E1 trong (1.12) với độ chính xác của 2/4. Trong trường hợp các thành giếng có chiều cao xác định, các hàm sóng không thể bị triệt tiêu tại bờ của thành giếng, nhưng bị giảm theo hàm mũ ở bên trong vùng cấm cổ điển x > a/2. Sác xuất khác 0 hiện ra để tìm ra một hạt ở bên ngoài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Với sự tăng n, sác xuất này tăng.
Số các trạng thái ở bên trong giếng được kiểm soát bởi điều kiện a 2mUo (n 1) (1.15) ở đây Uo là chiều cao của giếng.15) luôn giữ đối với n =1. Bởi vậy, ít nhất là có một trạng thái ở bên trong giếng thế năng một chiều với bất kỳ sự liên hợp nào của a và Uo. Số khả năng của các trạng thái ở bên trong giếng tương ứng với giá trị cực đại n đối với (1.15) vẫn còn được giữ. Vị trí tuyệt đối của các mức năng lượng thì thấp hơn giá trị xác định Uo được so sánh với Uo bởi vì bước sóng hiệu dụng của hạt trở nên lớn hơn.
Đối với các trạng thái sâu, phương trình (1.8) có thể được coi nhu là gần đúng tốt. Tất cả các trạng thái với E n > Uo tương ứng với chuyển động không xác định và hình thành các trạng thái liên tục.