MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Kế toán quản trị có bề dày phát triển ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển, nhƣng đây là một lĩnh vực còn tƣơng đối mới và bắt đầu đƣợc chú trọng từ khi Việt Nam chuyển hƣớng sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, khía cạnh pháp lý của kế toán quản trị chỉ đƣợc chính thức thừa nhận trong Luật kế toán có hiệu lực từ 2004. Sự thay đổi của hệ thống kế toán từ hệ thống kế toán chỉ phục vụ cho việc giám sát thuế và quản lý tài chính của nhà nƣớc, sang hệ thống kế toán không chỉ phục vụ thông tin cho việc quản lý của nhà nƣớc, mà còn phục vụ thông tin cho nhà quản trị DN là phù hợp với thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế.
Các công cụ kế toán quản trị đã đƣợc áp dụng trong doanh nghiệp Việt Nam bao gồm nhiều nhóm nhƣ: tính giá, dự toán, đánh giá thành quả, hỗ trợ ra quyết định và phân tích chiến lƣợc. Trong đó, dự toán là chức năng quan trọng đối với các doanh nghiệp. Hoạch định là xây dựng mục tiêu của doanh nghiệp và vạch ra các bƣớc thực hiện để đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra. Dự toán là việc hiện thực hóa kế hoạch trên phƣơng diện tài chính nhằm liên kết các mục tiêu cụ thể, chỉ rõ các tài nguyên phải sử dụng, đồng thời dự tính kết quả thực hiện trên cơ sở các kỹ thuật dự báo.
Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng công cụ dự toán trong kế toán quản trị sẽ giúp nhà quản trị trong việc đề ra các chính sách kế toán thúc đẩy việc vận dụng công cụ này, nâng cao năng lực quản trị của DN mình. Mục tiêu của đề tài - Làm rõ cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc lập dự toán trong các doanh nghiệp. Luan van 2 - Thông qua kết quả từ điều tra thực nghiệm, xác định mức độ sử dụng và mức độ lợi ích cảm nhận các công cụ trong nhóm lập dự toán ở các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. - Xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến việc lập dự toán ở các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Từ đó đề xuất các hàm ý chính sách góp phần thúc đẩy việc vận dụng công cụ lập dự toán trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: nhóm công cụ dự toán tổng thể và các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng các công cụ này trong các DN. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu này đƣợc thực hiện thông qua việc khảo sát các DN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau không bao gồm các DN hoạt động ở lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, ngân hàng. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng cả phƣơng pháp nghiên cứu định tính và định lƣợng.
Phƣơng pháp định tính đƣợc sử dụng trong giai đoạn xây dựng khung lý thuyết, phiếu điều tra và đề xuất chính sách góp phần thúc đẩy việc vận dụng công cụ lập dự toán ở các DN. Phƣơng pháp định lƣợng đƣợc thực hiện thông qua phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp các kế toán ở các DN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng bằng phiếu điều tra. Dữ liệu thu thập đƣợc xử lý bằng phần mềm SPSS. Tổng quan tài liệu Dự toán bao gồm các thành phần chủ yếu là một sự tính toán, dự kiến, sự phối hợp chi tiết và toàn diện, các nguồn lực, thời gian thực hiện, hệ thống các chi tiêu về lƣợng và giá trị (TS.
Các thành phần này đƣợc diễn giải nhƣ sau: Luan van 3 - Tính toán dự kiến hay kế hoạch: Thực chất đây là một sự ƣớc tính hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tƣơng lai, chỉ rõ những khối lƣợng công việc cần phải thực hiện. Sự ƣớc tính này chịu sự tác động của những nhân tố sau: Nhóm các nhân tố tác động đến các hoạt động trong tƣơng lai của doanh nghiệp mang tính chất khách quan, tác động từ bên ngoài và vƣợt khỏi phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp nhƣ điều kiện kinh doanh, chính sách, chế độ, thể lệ nhà nƣớc, quy mô các thành phần dân cƣ, sự biến động của nền kinh tế… Nhóm các nhân tố tác động đến các hoạt động tƣơng lai của doanh nghiệp mang tính chất chủ quan thuộc phạm vi kiểm soát và tùy thuộc vào doanh nghiệp nhƣ trình độ sử dụng lao động, trình độ sử dụng yếu tố vật chất của quá trình sản xuất, trình độ nhận thức và vận dụng các nhân tố khách quan… Dự toán là một sự tính toán, dự kiến hoạt động của doanh nghiệp trong sự tác động của hai nhóm nhân tố trên. Dự toán không chỉ đề xuất các công việc cần phải thực hiện mà còn chỉ rõ những ảnh hƣởng của các nhân tố khách quan và chủ quan đến việc thực hiện công việc đó. - Sự phối hợp chi tiết và toàn diện: Dự toán phải đƣợc phối hợp giữa các chi tiết một cách toàn diện, nghĩa là mọi hoạt động giao dịch của doanh nghiệp cần phải đƣợc xem xét.
Dự toán đƣợc lập cho từng đơn vị, phòng ban khác nhau trong doanh nghiệp, căn cứ vào thực trạng của các bộ phận và phải lập một cách hài hòa tƣơng đối với nhau. Tổng hợp dự toán ở từng bộ phận sẽ hình thành dự toán tổng thể cho toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. - Các nguồn lực: Dự toán phải chỉ rõ nguồn lực và cách thức huy động các nguồn lực cho hoạt động. Nghĩa là phải lập kế hoạch về các nguồn lực, cách sử dụng các nguồn lực nhƣ nguồn tài nguyên, nguồn vốn, nuông nhân Luan van 4 lực, điều kiện môi trƣờng để phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh trƣớc đây, các nhà kinh tế thƣờng chỉ tập trung khai thác, sử dụng các nguồn vật chất, lao động. - Thời gian xác định trong tương lai: dự toán thƣờng gắn liền với một thời hạn cụ thể trong tƣơng lai. Nếu không có yếu tố thời gian, dự toán trở thành vô nghĩa. Mỗi một thời điểm, thời kỳ khác nhau, sự tác động của các nhân tố khách quan, chủ quan, nguồn lực sử dụng đến hoạt động của doanh nghiệp sẽ khác nhau, nên những phƣơng án, những giải pháp, những dự tính của doanh nghiệp cũng sẽ khác nhau.
- Hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị: hệ thống các chỉ tiêu cho thấy lập dự toán phải theo một trình tự và đảm bảo tính logic. Các hoạt động và giao dịch khác nhau đƣợc thể hiện bằng các đơn vị đo lƣờng khác nhau, cụ thể nhƣ số lƣợng nguyên vật liệu, số lƣợng sản phẩm sản xuất, số lƣợng lao động… Bên cạnh sử dụng chỉ tiêu về số lƣợng để đo lƣờng các số tƣơng đối cần gộp chúng vào một kế hoạch tổng thể, nên phải sử dụng thƣớc đo tiền tệ làm mẫu chung quy đổi các đối tƣợng. Nhƣ vậy, dự toán sẽ xác định một cách cụ thể các chỉ tiêu về số lƣợng, giá trị. Hiện nay các nghiên cứu về dự toán chủ yếu là các luận văn thạc sĩ, luận văn cử nhân nghiên cứu việc lập dự toán tổng thể ở một doanh nghiệp cụ thể.
Việc nghiên cứu về dự toán trên một tổng thể DN chƣa đƣợc thực hiện, mà chủ yếu là nghiên cứu chung về vận dụng Kế toán quản trị, trong đó dự toán đƣợc nhắc đến là một trong các công cụ của KTQT ở các nghiên cứu. Tổng quan về các nghiên cứu dự toán tổng thể tại một DN cụ thể Trong nghiên cứu của Võ Thị Thùy Linh (2011) về công tác lập dự toán hoạt động tại Công ty Cổ phần công nghệ Đà Nẵng, tác giả đã nêu ra thực trạng công tác lập dự toán, đồng thời chỉ ra các ƣu nhƣợc điểm trong công tác lập dự toán tại Công ty, từ đó đƣa ra các đề xuất để hoàn thiện công tác lập tại Luan van 5 đậy. Tác giả cho rằng để có một hệ thống dự toán đồng bộ, chính xác và kịp thời cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận khác nhau trong một công ty, những ngƣời làm công tác lập dự toán cần phối hợp làm việc với các phòng ban khác nhau. Công tác lập dự toán hết sức phức tạp đòi hỏi ngƣời làm công tác kế toán không những am hiểu chuyên sâu và tổng hợp về kế toán tài chính mà còn phải có thêm kiến thức về kế toán quản trị và phân tích tài chính.
Bên cạnh việc việc bố trí nhân viên phù hợp trình độ còn cần kết hợp các chính sách khuyến khích nhân viên tự đào tạo lại và bổ sung kiến thức để thực hiện và phối hợp công việc ngày càng trôi chảy. Bên cạnh vấn đề về nhân sự, thì hệ thống trang thiết bị phục vụ công tác dự toán cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng. Việc lập dự toán đƣợc thực hiện liên quan đến nhiều bộ phận, phòng ban và các đơn vị trực thuộc ở Công ty. Để tiết kiệm thời gian công sức và chi phí thì Công ty nên khai thác triệt để ứng dụng của hệ thống mạng nội bộ đang có thông qua việc phân quyền sử dụng và chia sẻ thông tin thu thập đƣợc từ bộ phận kế toán ở các đơn vị phục vụ cho việc lập dự toán.
Dự toán là công việc quan trọng và cần thiết giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động của mình. Từ những lợi ích mà dự toán mang lại cho thấy các doanh nghiệp cần nghiên cứu ứng dụng và ngày càng hoàn thiện hơn công tác dự toán tại đơn vị mình để công việc kinh doanh và quản lý ngày càng thuận lợi và hiệu quả hơn. Hệ thống các báo cáo dự toán đã đƣợc xây dựng phục vụ cho các cấp quản lý theo từng loại dịch vụ nên việc theo dõi thực hiện dễ dàng phát hiện ra các dịch vụ không mang lại hiệu quả kinh tế cao để có hƣớng điều chỉnh kịp thời. Tuy nhiên do chƣa có sự chia sẻ thông tin giữa các phòng ban nên trong quá trình lập dự toán gặp nhiều khó khăn, lãng phí về mặt thời gian và công sức của bộ phận lập dự toán (Nguyễn Thị Cúc, 2011).