CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn do tài: Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 và đã có những bước phát triển đáng kể qua hơn mười năm qua. Đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam được xem là một thị trường chứng khoán mời nổi và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó để tìm hiểu nhân tố nào tác động lên tỷ suất sinh lợi trên từng chứng khoán vẫn là một trong những do tài được nhiều người quan tâm. Trong giới học thuật tài chính đã và đang có những tranh luận về các mô hình: Mô hình Định giá tài sản vốn-Sharpe và Lintner(1963), Mô hình ba nhân tố-Fama và French(1993), Mô hình bốn nhân tố- Carhart(1997) …, Các mô hình này đã được kiểm định trên các thị trường thế giới.
Chính vì điều đó, bài nghiên cứu tiến hành kiểm định mô hình nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán, cụ thể là mô hình bốn nhân tố của Carhart (1997 để lượng hóa đúng rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu của bài nghiên cứu là nhằm đánh giá sự hiệu quả của mô hình định giá tài sản theo mô hình bốn nhân tố của Carhart trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mục đích của bài nghiên cứu được thể hiện rõ thông qua việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu: Tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán có quan hệ như thế nào với nhân tố thị trường? nhân tố quy mô công ty? nhân tố giá trị sổ sách trên giá trị thị trường? nhân tố xu hướng (đà tăng trưởng)? 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Đối tượng nghiên cứu: Tác giả dựa theo nghiên cứu của - Keith S. So (2009) - để xây dựng mô hình 4 nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam (bao gồm các cổ phiếu trên SGDCK TP.4 Dữ liệu và Phuơng pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên phạm vi nghiên cứu gồm các công ty niêm yết tại HoSE và sàn HNX từ tháng 7-2009 đến tháng 06-2013; dữ liệu lấy từ báo cáo tài chính 6 tháng và báo cáo năm, hầu hết đã qua soát xét và kiểm toán. Dữ liệu được sử dụng để kiểm định mô hình là dữ liệu thứ cấp cần thiết thu thập được từ website về chứng khoán, tài chính.
Phương pháp nghiên cứu trong luận văn này là sử dụng mô hình kinh tế lượng để nghiên cứu mối tương quan giữa các biến trong mô hình, sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất OLS hồi quy chuỗi thời gian để xác định mức độ giải thích của các biến trong mô hình từ đó kiểm định tính phù hợp của mô hình nghiên cứu với điều kiện thực tế thông qua các công việc: Xác định mẫu nghiên cứu; Giới thiệu mô hình nghiên cứu để mô tả mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu; Xác định và tính toán các biến trong mô hình. Kiểm định các giả thuyết mô hình nghiên cứu; 1.5 Giới hạn của đề tài nghiên cứu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Với các giới hạn về đối tượng và thời gian nghiên cứu nói trên, nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các cổ phiếu của các công ty niêm yết tại sàn HOSE và sàn HNX trước ngày 31/12/2013 có đầy đủ dữ liệu. Số liệu về giá và các báo cáo tài chính của các công ty này được thu thập trong khoảng thời gian từ 01/07/2009 đến 30/06/2013. Ngoài ra, nghiên cứu chỉ tập trung vào các cổ phiếu niêm yết trên SGDCK TP.HCM (HOSE) và SGDCK Hà Nội (HNX); không nghiên cứu thị trường UPCOM và thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) mà hoạt động của các thị trường này được xem là khá sôi nổi và chứa nhiều rủi ro, do chưa minh bạch trong việc cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư chứng khoán.
Hiện nay các dữ liệu về thị trường chứng khoán được cung cấp trên các trang web hầu hết là các trang chuyên về chứng khoán, mỗi trang web tự cung cấp các thông tin, mà không có một bộ cơ sở dữ liệu chung cho toàn bộ thị trường. Do đó dữ liệu có thể không đồng nhất và việc tính toán thủ công sẽ không tránh khỏi những sai sót. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết một số mô hình xác định tỷ suất sinh lợi chứng khoán 2.1 Lý thuyết danh mục Markowitz: + Tổng quan lý thuyết danh mục: Markowitz đã phát triển các nguyên lý cơ bản về xây dựng danh mục, làm nền tảng cho thảo luận của các nhà kinh tế về mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi (TSSL), Markowitz đã chỉ ra rằng phương sai của tỷ suất sinh lợi là một thước đo của rủi ro danh mục với một số giả định. Khi danh mục của nhà đầu tư có nhiều loại chứng khoán, có thể đa dạng hoá để làm giảm rủi ro của danh mục.
Nhà đầu tư có thể loại trừ được hoàn toàn rủi ro không hệ thống, nhưng có một số rủi ro không thể loại trừ được gọi là rủi ro hệ thống. Rủi ro không hệ thống (non-systematic risk) là những rủi ro đặc thù liên quan đến từng cổ phần, nảy sinh từ những nguyên nhân nội tại của doanh nghiệp hay của ngành, ví dụ như: năng lực quản trị yếu kém, nguồn cung nguyên vật liệu gặp khó khăn, quy định của chính phủ về kiểm soát môi trường chặt chẽ hơn, tác động của cạnh tranh nước ngoài (mức độ cạnh tranh nước ngoài càng cao thì rủi ro càng cao), mức độ sử dụng đòn bẩy (sử dụng nợ càng nhiều thì mức độ rủi ro tài chính càng cao)… Rủi ro hệ thống (systematic risk, hay còn gọi là rủi ro thị trường) là rủi ro gắn liền với các biến động của thị trường, xuất phát từ các nguyên nhân bên ngoài doanh nghiệp hay ngành: thiên tai, chiến tranh, thay đổi trong lãi suất, thay đổi trong sức mua, thay đổi trong kỳ vọng của nhà đầu tư về nền kinh tế… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Rủi ro của một chứng khoán được đánh giá thông qua phân tích độ nhạy, cho thấy được các xác suất của các khả năng sinh lợi khác nhau và được đo lường bằng căn bậc hai phương sai độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi Theo Markowitz việc lựa chọn các cổ phần không di chuyển cùng chiều với nhau thì nhà đầu tư có thể làm giảm độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lợi như thế nào Việc di chuyển cùng chiều hay không không cùng chiều của TSSL hai chứng khoán theo thời gian được đo lường bằng hệ số tương quan giữa hai chứng khoán. Hệ số tương quan nằm trong khoảng [-1,+1] Hệ số tương quan được tính bằng: COV (AB) ρAB = ϬA. ϬB ϬA, ϬB là độ lệch chuẩn của hai chứng khoán A, B COV (A,B) = ∑ni=1 Pi (riA – rA) (riB – rB) riA, riB là TSSL của chứng khoán A, B ở tình huống i, rA, rB là các TSSL mong đợi của chứng khoán A, B Từ đó phương sai của danh mục: Ϭp2= xA2.
ρAB Độ lệch chuẩn bằng căn bậc hai của phương sai. + Cách xác định danh mục hiệu quả: Với hai chứng khoán cho trước việc kết hợp các chứng khoán theo tỷ trọng khác nhau tạo thành danh mục khác nhau, các danh mục kết hợp này TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 sẽ nằm trong vùng mà Markowitz gọi là quả trứng vỡ. Các kết hợp có hiệu quả nhất là các kết hợp với cùng tỷ suất sinh lợi, rủi ro (độ lệch chuẩn là thấp nhất và nằm trên đường biên gọi là đường biên hiệu quả) Đường hữu dụng cho thấy thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro. Đường hữu dụng được thiết lập theo phương trình: U = E (Ri) – 0.5*A*Ϭ2 Trong đó: U: mức hữu dụng; A: hệ số ngại rủi ro Ri: TSSL chứng khoán và Ϭ2 là phương sai TSSL chứng khoán Ứng với mỗi nhà đầu tư (một giá trị hệ số ngại rủi ro) ta có một tập hợp các đường hữu dụng song song với nhau.
Đường hữu dụng càng cao cho thấy mức hữu dụng càng lớn Kết hợp các đường biên hiệu quả với đường hữu dụng giúp ta xác định được các danh mục hiệu quả. Danh mục hiệu quả là danh mục nằm ở điểm tiếp xúc giữa đường biên hiệu quả và đường hữu dụng.2 Mô hình định giá tài sản vốn CAPM: Mô hình CAPM xây dựng dựa trên mô hình về lựa chọn danh mục được phát triển bởi Harry Markowitz (1959) Beta đo lường độ nhạy cảm của chứng khoán đối với các biến động của thị trường. Cổ phần có beta lớn hơn 1 có khuynh hướng khuếch đại các biến động của thị trường. Cổ phần có beta nằm trong khoảng (0,1) có khuynh hướng di chuyển cùng với rủi ro của thị trường nhưng lệch không TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nhiều, còn cổ phần có beta bé hơn 0 thì di chuyển ngược với thị trường.
Danh mục thị trường có beta bằng 1. Mô hình định giá tài sản vốn CAPM cho thấy mối quan hệ giữa TSSL và beta chứng khoán, được đưa ra bởi William Sharpe, John Litner và Jack Treynor (1960): r – rf = β * (rm– rf) được diễn tả: phần bù rủi ro chứng khoán = β * phần bù rủi ro thị trường + Các giả định của mô hình CAPM: - NĐT nắm giữ danh mục chứng khoán đa dạng hoá hoàn toàn - Chứng khoán được trao đổi trong thị trường tự do cạnh tranh - NĐT có thể đi vay và cho vay với cùng một lãi suất phi rủi ro và không đổi theo thời gian - Không có thuế và chi phí môi giới cho việc mua và bán chứng khoán - NĐT đều là NĐT Markowitz, thích lựa chọn chứng khoán có TSSL cao nhất ứng với rủi ro cho trước và rủi ro thấp nhất ứng với TSSL cho trước - Tất cả NĐT đều có kỳ vọng thuần nhất về TSSL, phương sai, hiệp phương sai. Đường thị trường chứng khoán SML (Security market line) là đường biểu diễn bằng đồ thị của mô hình CAPM Hình 1: Đường thị trường chứng khoán với thước đo rủi ro là beta TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Trên hình vẽ trục tung là TSSL kỳ vọng và trục hoành là beta chứng khoán 2.3 Mô hình 3 nhân tố của Fama – French (FF3FM -1993): + Ý nghĩa các nhân tố và hệ số: Những nghiên cứu trên thị trường chứng khoán Mỹ cho thấy rằng TSSL trung bình ít có mối quan hệ với β trong mô hình CAPM của Sharpe và Lintner (1965).