CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu đã thực hiện Sau một quá trình tìm hiểu và thu thập dữ liệu, tác giả thấy rằng đã có một số nghiên cứu của các tác giả đề cập đến vấn đề có liên quan như sau: (1) Luận án tiến sỹ: Luận án Đổi mới việc đào tạo bồi dưỡng và sử dụng công nhân kỹ thuật, cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp để nâng cao năng suất lao động ở Việt Nam của tác giả Lê Văn Nhã – Trường đại học Kinh tế quốc dân năm 1994. Luận án đã đánh giá có căn cứ khoa học và có hệ thống thực trạng đào tạo, bồi dưỡng sừ dụng cán bộ kỹ thuật và cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp để từ đó đề ra được biện pháp năng cao năng suất lao động ở nước ta. Điểm mạnh của luận án là đã đề ra được một biện pháp để nâng cao năng suất lao động tại Việt Nam. Tuy nhiên xét về thời gian thì luận án đã làm được khá lâu, các vấn đề thực trạng đã trở lên quá cũ không có tính cấp thiết đối với tình hình hiện nay.
(2) Luận văn thạc sỹ: Luận văn thạc sĩ Phân tích thống kê chỉ tiêu năng suất lao động toàn nền kinh tế quốc dân Việt Nam giai đoạn 1995 - 2005 của tác giả Phạm Ngọc Yến – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2006. Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu thống kê các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng năng suất lao động xã hột ở Việt Nam hiện nay của tác giả Lê Thị Phương – của Trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2014. Cả hai luận văn trên đều nghiên cứu về vấn đề thống kê các chỉ tiêu liên quan đến năng suất trên phạm vi là nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên cả hai đề tài trên đều là đề tài nghiên cứu thống kê chứ không đi sâu vào phân tích các nhân tố cụ thể mà không thể đo lường được ví dụ như an toàn lao động, bầu không khí lao động, thái độ của lãnh đạo,.
Hai luận văn trên cũng mới chỉ tập trung vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến NSLĐ xã hội trong phạm vi toàn nền kinh tế quốc dân Việt Nam mà chưa nghiên cứu đến các tế bào nhỏ cấu thành nên nền kinh tế đó là NSLĐ của 6 doanh nghiệp do đó những kết quả của luận văn không thể áp dụng để nâng cao NSLĐ của doanh nghiệp. (3) Các nghiên cứu khoa học và bài báo về NSLĐ: Bài báo: Mô hình và giải pháp cơ bản nâng cao năng suất của doanh nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Lê Hoa – đăng trên báo Tiêu chuẩn đo lường chất lượng số 4 (2/2009) Trong bài báo tác giả đã làm rõ tầm quan trọng của những giải pháp nâng cao năng suất lao động đến sự phát triển của một doanh nghiệp và đề cập vấn đề để có thể đề ra các biện pháp cải tiến năng suất doanh nghiệp phải phân tích những nhân tố tác động tới NSLĐ tại doanh nghiệp, từ đó giới thiệu mô hình cải tiến năng suất ổn định và hiệu quả của R.C Monga – chuyên gia năng suất của Tổ chức Năng suất Châu Á – APO. Bài báo: Nâng cao năng suất và chất lượng của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập của GS.TS Nguyễn Đình Phan – đăng trên báo Kinh tế & Phát triển số 146 (8/2009) Trong bài báo, tác giả đã đề cập đến mối quan hệ của năng suất và chất lượng, hai nhân tố quuyết định tới thành bại của doanh nghiệp trong cạnh tranh. Tác giả phân tích nhưng tiến bộ của các doanh nghiệp Việt Nam về nhận thực và hành động thực tế, từ đó đánh giá thách thức và kết luận một số việc phải làm để nâng cao năng suất và chất lượng của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập đó là: tạo ra sự gắn bó hữu cơ giữa năng suất và chất lượng; coi trọng công tác tiêu chuẩn hóa; đổi mới công nghệ và phát huy vai trò của chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng.
Bài báo: Nâng cao năng suất lao động thông qua tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh của Trung Tâm Năng Suất Việt Nam đăng trên trang web: www. Trong bài báo, tác giả khẳng định NSLĐ chính là chìa khóa để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Tác giả cũng nghiên cứu phương pháp Tái cơ cấu quá trình kinh doanh và nhận thấy đây là phương pháp có thể làm gia tăng đáng kể NSLĐ từ thực tế đã chứng minh rằng chỉ cần thay đổi suy nghĩ/quan niệm và 1 khoản đầu tư nhỏ có thể giúp tăng hơn gấp đôi NSLĐ. Tác giả cũng đưa ra 4 ví dụ thực tế của các doanh nghiệp nâng cao NSLĐ bằng phương pháp tái cơ cấu quá 7 trình kinh doanh.
Bài phát biểu: Cần làm gì để cái thiện năng suất lao động của Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân tại phiên thảo luận tại hội trường về tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 và nhiệm vụ năm 2015 tại kỳ họp Quốc hội ngày 30/10/2014. Trong bài phát biểu, tác giả đã đề cập đến vấn đề NSLĐ của Việt Nam năm 2013 thuộc nhóm thấp nhất Châu Á – Thái Bình Dương theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và cho rằng cách tính NSLĐ của ILO thì so sánh NSLĐ giữa các nước cũng tương đương như so sánh Tổng sản phẩm nội địa theo đầu người của các nước và rút ra là câu hỏi “Vì sao NSLĐ của Việt Nam thấp”? gần tương tự như câu hỏi “Vì sao Việt Nam nghèo”?. Từ đó tác giả nhấn mạnh 1 nhóm giải pháp đó là: phát triển các hình thức hợp tác trong sản xuất nông nghiệp; thay đổi mô hình tư duy và mô hình phát triển kinh tế. Báo cáo năng suất Việt Nam 2014 của Viện Năng suất Việt Nam: Đây là báo cáo do Viện Năng suất Việt Nam (VNPI) biên soạn nhằm cung cấp thông tin và kết quả phân tích về các chỉ tiêu năng suất của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014.
Báo cáo tập trung vào các chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng suất của nền kinh tế là năng suất lao động và năng suất yếu tố tổng hợp (TFP). Dựa trên cách tiếp cận và phương pháp tính toán của Tổ chức Năng suất Châu Á (APO), cùng với những nỗ lực hợp tác nghiên cứu trong nước và quốc tế của Viên Năng suất Việt Nam, Báo cáo năng suất Việt Nam 2014 là tài liệu tham khảo hữu ích về khái niệm năng suất, các chỉ tiêu năng suất, thực trạng năng suất của nền kinh tế và các thành phần kinh tế có sự so sánh với một số nước trong khu vực và quốc tế.2 Các kết luận rút ra từ tổng quan Vấn đề năng suất lao động tại doanh nghiệp là vấn đề quan trọng trong quá trính phát triển kinh tế của một nhà nước, tuy nhiên trong quá trình tìm tòi và nghiên cứu tài liệu tôi nhận thấy những đề tài luận văn thạc sỹ và tiến sỹ nghiên cứu về vấn đề này hiện còn rất hạn chế, một số đề tài nghiên cứu về vấn đề nâng cao NSLĐ của nền kinh tế quốc dân tuy nhiên vấn đề nâng cao NSLĐ của doanh nghiệp, tế bào cấu thành nên nền kinh tế thì lại chưa được chú trọng. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Khái niệm và phân loại năng suất lao động 2.1 Khái niệm năng suất lao động. Khái niệm truyền thống Theo Các Mác thì NSLĐ là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích.
Nó nói lên kết quả hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một đơn vị thời gian nhất định. NSLĐ được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đó. Theo quan niệm truyền thống thì NSLĐ phản ánh hiệu quả của việc sử dụng lao động. Thực chất nó đo giá trị đầu ra do một lao động tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định, hoặc là số thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đầu ra.2 Khái niệm theo cách tiếp cận mới a) Năng suất Năng suất theo cơ quan Năng suất Châu Âu (EPA) là một hình thái tư duy, đó là thái độ luôn tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại.
Vì có một sự chắc chắn rằng, con người ngày hôm nay có thể làm việc tốt hơn hôm qua – ngày mai tốt hơn hôm nay và dù kết quả có như thế nào, ý chí cải tiến mới là quan trọng; đó là khả năng luôn thích ứng với cái điều kiện thay đổi và nỗ lực không ngừng để áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới; và là niềm tin chắc chắn vào sự tiến bộ của nhân loại. Về mặt định lượng, năng suất được đo bằng quan hệ tỷ lệ giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào. Đầu ra có thể là giá trị tổng sản lượng, sản lượng, lợi nhuận, giá trị tăng thêm,. Đầu vào có thể là vốn, lao động, đất đai, nguyên vật liệu,.
Do đó sẽ có: năng suất chung, năng suất các yếu tố (nguyên vật liệu, vốn, lao động, .) 9 Năng suất theo cách tiếp cận mới có những đặc trưng sau: Nhấn mạnh vào giảm lãng phí trong mọi hình thức. Năng suất là làm việc thông minh hơn chứ không phải nhiều hơn. Khả năng tư duy và nguồn nhân lực của con người đóng vai trò quan trọng nhất trong việc đạt được năng suất cao hơn và hành động là kết quả của quá trình tư duy. Tăng năng suất đông nghĩa với sự cải tiến và đổi mới liên tục.
Năng suất được coi là biểu hiện của cả hiệu lực và hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu. Năng suất theo cách tiếp cận mới là năng suất gắn với bảo vệ môi trường vì thế xuất hiện khái niệm năng suất xanh, năng suất sạch. Năng suất theo cách tiếp cận mới trở thành khái niệm động, tổng hợp nhiều yếu tố, cần phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với bản chất và môi trường kinh tế cụ thể mà trong đó các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tính tổng hợp còn thể hiện chất lượng, đặc điểm của đầu ra và hiệu quả của các yếu tố đầu vào được xem xét ở mọi cấp độ khác nhau như quốc tế, quốc gia doanh nghiệp và từng cá nhân.