phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chƣơng. Cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp tỉnh Chƣơng 2. Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức CQHC nhà nƣớctỉnh Xay Nha Bu Ly, nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Chƣơng 3. Giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức tỉnh Xay Nha Bu Ly, nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào LV thạc sĩ Quản lý công 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC CẤP TỈNH 1.
Khái quát về công chức cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp tỉnh 1. Khái niệm công chức cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh * Khái niệm công chức Công chức là một bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nƣớc, nó phản ánh nhu cầu khách quan của lịch sử phát triển nhà nƣớc. Cách hiểu về công chức tùy thuộc mỗi quốc gia, trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Có nƣớc hiểu rạch ròi cán bộ và công chức, có quốc gia lại sử dụng chung thuật ngữ “cán bộ, công chức”, nhƣng có quốc gia không sử dụng thuật ngữ “cán bộ” mà chỉ có “công chức”.
LV thạc sĩ Quản lý công Ở Pháp, khái niệm công chức đƣợc hiểu rất rộng, bao gồm tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nƣớc, ngƣời tham gia dịch vụ công. Trong khi nƣớc Anh, nơi có quan niệm công chức chỉ là những ngƣời thay mặt nhà nƣớc giải quyết công việc công, nhất là cơ quan hành chính nhà nƣớc ở trung ƣơng, nên đối tƣợng đƣợc coi công chức thu hẹp hơn rất nhiều. Ở Việt Nam, theo Luật Cán bộ, công chức đƣợc Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ Tƣ thông qua 13/11/2008, Luật có hiệu lực từ 01/01/2010 thì khái niệm cán bộ và công chức có sự phân biệt rõ ràng, theo đó: - Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc [33]. 9 - Cán bộ xã, phƣờng, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thƣờng trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy, ngƣời đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội [33].
- Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; LV thạc sĩ Quản lý công đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [33]. - Công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc [33]. Dù quan niệm của mỗi quốc gia là khác nhau về cán bộ, công chức nhƣng theo quan niệm chung của nhiều quốc gia trên thế giới thì công chức đƣợc hiểu là những công dân đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Ở nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, trƣớc năm 2015, khái niệm cán bộ và công chức vẫn chƣa có sự phân biệt rõ ràng.
Theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 thì cán bộ, công chức là một khái niệm dùng chung để chỉ đối tƣợng làm việc cho Đảng, Nhà nƣớc và các cơ quan quần chúng 10 cấp trung ƣơng, địa phƣơng. Cụ thể, tại Điều 2 Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 định nghĩa: “Cán bộ, công chức của nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là công dân Lào, ngƣời đƣợc tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào làm việc thƣờng xuyên tại các cơ quan tổ chức của Đảng, Nhà nƣớc, cơ quan tổ chức quần chúng cấp trung ƣơng, cấp địa phƣơng và cơ quan đại diện nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở nƣớc ngoài đƣợc hƣởng tiền lƣơng và trợ cấp khác từ ngân sách nhà nƣớc” [9]. Điều 3 Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 quy định: “những đối tƣợng nhƣ: cán bộ lãnh đạo cao cấp (từ cấp thứ trƣởng và tƣơng đƣơng trở lên); bộ đội; công an; cán bộ thuộc doanh nghiệp nhà nƣớc; cán bộ theo hợp đồng, thì chính phủ có quy định điều chỉnh riêng”. Nhƣ vậy, khái niệm về công chức của Nghị định này có phạm vi rộng, đối tƣợng điều chỉnh không chỉ là những ngƣời làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc từ trung LV thạc sĩ Quản lý công ƣơng đến địa phƣơng mà còn bao hàm cả những ngƣời làm việc ở các cơ quan Đảng, Đoàn thể khác,…[9].
Tuy nhiên, đến khi có Luật Cán bộ, công chức năm 2015 có hiệu lực tháng 02/2016 thì vấn đề quy định về cán bộ, công chức đƣợc cụ thể và rõ ràng. Ngay tại Điều 1 của Luật quy định về mục đích của Luật này quy định nguyên tắc, cách thức và biện pháp về tổ chức hoạt động, quản lý, giám sát, kiểm tra công tác tổ chức cán bộ - công chức để làm cho tổ chức Đảng, nhà nƣớc, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể ở Trung ƣơng và địa phƣơng thực hiện công tác này đƣợc đúng đắn, đồng bộ, vững chắc nhằm đảm bảo cho việc thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc trong từng giai đoạn có tính thống nhất, minh bạch, công bằng, công khai và kiểm soát đƣợc góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trên cơ sở mục đích rõ ràng và cụ thể, thì Luật Cán bộ, công chức cũng chỉ ra khái niệm về cán bộ, công chức nhƣ sau. Tại Điều 2 của Luật ghi rõ: 11 Cán bộ - công chức là công dân Lào đƣợc bầu cử, phê chuẩn hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc, Mặt trận Xây dựng đất nƣớc Lào và các đoàn thể ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc công tác tại trụ sở đại diện cho nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở nƣớc ngoài và tổ chức quốc tế đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc [8].
* Khái niệm công chức cơ quan HCNN cấp tỉnh Công chức cơ quan HCNN là những ngƣời đƣợc tuyển dụng vào làm việc cho cơ quan HCNN, đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đại diện cho nhà nƣớc trong thực thi công vụ. Công chức cơ quan HCNN cấp tỉnh là những ngƣời đƣợc tuyển dụng vào làm việc cho cơ quan HCNN cấp tỉnh, đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách của địa phƣơng, đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc để thực hiện chức năng, LV thạc sĩ Quản lý công nhiệm vụ của cơ quan, đại diện cho nhà nƣớc cấp tỉnh trong thực thi công vụ thuộc phạm vi một tỉnh. Công chức trong cơ quan HCNN ở cấp tỉnh gồm: - Chánh Văn phòng, Phó Chánh văn phòng, ngƣời giữ chức vụ cấp trƣởng, cấp phó và ngƣời làm việc trong cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Ủy ban nhân dân; - Ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; ngƣời giữ chức vụ cấp trƣởng, cấp phó và ngƣời làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân; - Trƣởng ban, Phó Trƣởng ban, ngƣời giữ chức vụ cấp trƣởng, cấp phó và ngƣời làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thuộc Ủy ban nhân dân. Vị trí, vai trò công chức cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh Công chức cơ quan HCNN cấp tỉnh có vị trí, vai trò chung của ngƣời công chức.
Công chức cơ quan HCNN cấp tỉnh là lực lƣợng trực tiếp của nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc, là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công hay thất bại của cách mạng; là ngƣời bảo đảm cho Nhà nƣớc giữ vững đƣợc bản chất giai cấp công nhân và Đảng giữ đƣợc vị trí cầm quyền. Vai trò của công chức nói chung rất quan trọng bởi họ là ngƣời thực hiện công việc trong thực tiễn.Mác cho rằng: muốn thực hiện tƣ tƣởng cần có thực hiện tƣ tƣởng cần có những ngƣời sử dụng lực lƣợng thực tiễn. Lênin cũng tổng kết thực tiễn: trong lịch sử chƣa có một giai đoạn nào giành đƣợc quyền thống trị, nếu không đào tạo ra trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ LV thạc sĩ Quản lý công chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng của mình Lênin chú trọng xây dựng, đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, lực lƣợng quan trọng quyết định thắng lợi của cách mạng.
Ngƣời nói: Cách mạng tháng Mƣời không thể thắng lợi nếu không có đội ngũ cán bộ đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng. Sau khi dành đƣợc chính quyền, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lênin cho rằng: nghiên cứu con ngƣời những cán bộ có bản lĩnh hiện nay đó là then chốt, nếu không thể thì tất cả mọi mệnh lệnh và nghị quyết chỉ là mớ giấy lộn. Có thể thấy, các đảng cộng sản và phong trào công nhân trên thế giới khẳng định tầm quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ.