CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE HIỆU QUA SỬ DUNG VON TRONG DOANH NGHIỆP Doanh nghiệp là một hệ thống phức tạp và đa dạng, cả về số lượng và cơ cấu nguồn lực, về chuyên môn, về công nghệ sử dụng hay hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong điều kiện hiện nay, với sự hội nhập của nền kinh tế thị trường, cách hình thức cạnh tranh mới, các công nghệ mới xuất hiện, thúc đây doanh nghiệp phải tự thích ứng, phải trở nên mềm dẻo hơn. Dưới áp lực của nhiều sự ràng buộc, cả từ bên ngoài (Nhà nước, nhà cung cấp, khách hàng, các tô chức tài chính.) lẫn từ bên trong (liên minh giữa các nhóm khác nhau trong cùng ngành), doanh nghiệp cần phải có biện pháp để có thê tồn tại và phát triển. Trong đó có việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là yếu tố quyết định quan trọng nhất.
Do mục tiêu nghiên cứu, chương này chủ yếu sẽ đi vào nghiên cứu lý thuyết chung về hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Quá trình hoạt động của các doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể về quy trình công nghệ và tính chất hoạt động, phần lớn do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất ở từng doanh nghiệp quyết định. Mặc dù vậy, có thể khái quát những nét chung nhất của các doanh nghiệp là đều phải sử dung vốn dé chuẩn bị các yếu tố đầu vào, thực hiện một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định đề tạo ra các sản pham hoặc dịch vụ hoàn thành đầu ra, nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của doanh nghiệp dé đạt được sự tăng trưởng và phát triển. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phải dự tính được khả năng xảy ra rủi ro, đặc biệt là rủi ro tài chính để có cách ứng phó kịp thời và đúng đắn.
Dưới sức ép của thị trường cạnh tranh, doanh nghiệp phải chuyển dần từ chiến lược trong cung cổ điển sang chiến lược trọng cầu hiện đại. Những đòi hỏi về chất lượng, mẫu mã, giá cả. ngày càng cao hơn, tỉnh tế hơn của các khách hàng buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi chính sách sản phâm, đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Trong các doanh nghiệp nói chung và Công ty cô phần Kính Viglacera Đáp Cầu nói riêng cần trả lời được câu hỏi: sử dụng vốn kinh doanh như thế nào cho có hiệu quả cao? 1.
Vốn của doanh nghiệp 1. Tổng quan về vốn của doanh nghiệp Trong nền kinh tế quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi như là một tế bào với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ dé cung cap cho xã hội. Doanh nghiệp có thể thực hiện được một, một số, hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Để tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có tư liệu lao động, đối tượng lao động, và sức lao động.
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tô dé tao ra sản phẩm hang hoá, dich vụ. Dé có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Từ khi thành lập, doanh nghiệp cần có một số vốn nhất định gọi là von điều lệ. Von điêu lệ chủ yêu ở đây là tiên von góp của các chủ doanh nghiệp, hoặc có thể là đất đai, nhà cửa, ô tô, máy móc thiết bị sản xuất.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thé mua sim thêm các máy móc thiết bị khác, xây dựng nhà xưởng, nhà văn phòng, mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thuê lao động. từ vốn bằng tiền hiện có hoặc đi vay mượn, từ phần lợi nhuận được tích luỹ dé phát triển kinh doanh. Thé hiện bằng tiền của tất cả các tài sản của doanh nghiệp trong bat cứ một thời điểm nao thì đó chính là vốn của doanh nghiệp tại thời điểm đó. Một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nảo thì cũng cần có z7 A von.
Khái niệm và bản chất của vốn kinh doanh Có nhiều khái niệm khác nhau về vốn kinh doanh: Thứ nhất, von kinh doanh là biểu hiện băng tiền của toàn bộ gia tri tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục dich sinh lời [18, tr.57] Thứ hai, von kinh doanh của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về toàn bộ tai sản hữu hình, tài sản vô hình phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích kiếm lời Vốn là tiền ứng trước dé kinh doanh nhưng tiền chưa han đã là vốn. Tiền được gọi là vốn thì phải thoả mãn các điều kiện sau: - Tiền phải có giá trị lưu hành - Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một mức độ nhất định, đủ để đầu tư vào một dự án kinh doanh - Khi tiền đủ lượng phải vận động nhằm mục đích kiếm lời. Vốn là số tiền mà doanh nghiệp nắm trong tay trong suốt thời gian tồn tại để thực hiện công việc kinh doanh của mình [34]. Tóm lại, vốn kinh doanh là số tiền đầu tư ứng trước để hình thành nên tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, von kinh doanh thể hiện bằng tiền về mặt giá trị của tài sản.
Hình thái biểu hiện vật chất của vốn kinh doanh là các loại tài sản trong doanh nghiệp. Đặc trưng của vốn kinh doanh Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyên hoá từ hình thái ban đầu là tiền sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần hoan của vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng.
Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, tạo thành sự chu chuyên vốn kinh doanh. Su chu chuyền vốn kinh doanh chịu sự chi phối rat lớn bởi đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của ngành nghề kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nhìn chung, ta có thé thấy vốn của doanh nghiệp có những đặc trưng cơ ban như sau: Thứ nhất, vôn phải vận động và sinh lời. Vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản, nhưng không phải lúc nào tiền cũng là vốn.
Tiền phải vận động và sinh lời mới được gọi là vốn. Trong quá trình vận động, tiền có thé thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng khi kết thúc vòng tuần hoàn phải trở về hình thái ban đầu với giá trị lớn hơn. Đó cũng là nguyên lý đầu tư, sử dụng bảo toàn và phát triển vốn. Vì vậy, khi đồng vốn bị ứ đọng, tài sản không vận động, tài nguyên, sức lao động không sử dụng, tiền- vàng bỏ ống cất trữ, hoặc các khoản nợ khó đòi.
chỉ là những đồng “vốn chết”. Mặt khác, tiền có vận động nhưng khi kết thúc vòng luân chuyển mà không mang lại giá trị lớn hơn thì đồng vốn cũng không được đảm bảo, chu kỳ tiếp theo cũng bị ảnh hưởng (vốn bị mất đi). 10 Thứ hai, vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản nhất định. Đó là biểu hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong doanh nghiệp như nha xưởng, đất đai, thiết bị sản xuất, nguyên vật liệu, chất xám, thông tin.
Như vậy, một lượng tiền mà thoát ly giá trị thực của tài sản để đưa vào đầu tư hoặc những khoản nợ mà không có khả năng thu hồi được thì không đúng nghĩa của z A von. Thứ ba, vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thé phát huy được tác dụng. Đề đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có đủ vốn. Thứ tư, von phải gắn với một chủ sở hữu nhất định.
Muốn đồng vốn sinh lời, thì cần phải có chủ thể sở hữu vốn gắn liền với lợi ích kinh tế với nó. Do vậy, họ sẽ tăng cường quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Doanh nghiệp không những chỉ khai thác các tiềm năng về vốn của doanh nghiệp mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn ngoài doanh nghiệp như: nhận vốn góp liên doanh, liên kết, phát hành cô phiếu, trái phiếu, vay vốn. Thứ năm, vôn có giá trị về mặt thời gian- nghĩa là phải xét đến giá trị thời gian của đồng vốn.
Vì trong nên kinh tế thi trường, vốn bị ảnh hưởng của lạm phát, sự biến động của giá cả nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm hác nhau là khác nhau. Do vậy, đồng vốn được đầu tư khác nhau theo thời gian. (Khi định giá doanh nghiệp hoặc dau tư trong một thời gian dài can xem xét đến đặc trưng này) Thứ sáu, trong nền kinh tế thị trường, vốn phải được quan niệm là một loại hàng hoá đặc biệt. Những người có sẵn vốn có thể đưa vốn vào thị trường, còn những người cần vốn thì đến thị trường này dé có được vốn.
Người có vốn là chủ nợ (người cho vay), người cần vốn là con nợ (người đi vay). Người đi vay sử dụng vốn của người cho vay và phải trả một khoản tiền nhất định (lãi tiền vay- tính theo 11 ty lệ lãi suất nhất định), người cho vay không mat quyền sở hữu vốn mà chỉ mat quyền sử dụng. Việc mua bán vốn cũng tuân theo quy luật cung- cầu trên thị trường. Như vậy, khác với hàng hoá thông thường, vốn khi bị bán đi sẽ không mất quyên sở hữu mà chi mat quyền sử dụng.
Thứ bảy, vôn không chỉ là biểu hiện băng tiền của các tài sản hữu hình mà nó còn được biểu hiện bằng giá tri của những tài sản vô hình như: bản quyền phát minh sáng chế, bí quyết công nghệ, nhãn hiệu hàng hoá. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tài sản vô hình ngày càng đa dạng và phong phú, chúng ngày càng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Vì vậy, van đề quan trọng là việc xác định (định giá) các tai sản nói chung vả tài sản vô hình trong doanh nghiệp nói riêng.