phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về lao động và hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phân tích hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty cổ phần Vissai Ninh Bình giai đoạn 2019 - 2021. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty cổ phần Vissai Ninh Bình. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát chung về lao động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm lao động Lao động là hoạt động có mục đích của con ngƣời, là quá trình sức lao động tác động lên đối tƣợng lao động thông qua tƣ liệu sản xuất nhằm tạo nên những vật phẩm, những sản phẩm theo mong muốn. Vì vậy, lao động là điều kiện cơ bản và quan trọng nhất trong sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài ngƣời [4]. Quá trình lao động là quá trình kết hợp giữa ba yếu tố của sản xuất, đó là: Sức lao động – Đối tƣợng lao động – Tƣ liệu sản xuất [3].
Giữa con ngƣời và đối tƣợng sản xuất có những mối quan hệ mật thiết tƣơng tự nhƣ trên, đặc biệt là mối quan hệ giữa kỹ năng, hiệu suất lao động với khối lƣợng chủng loại lao động yêu cầu và thời gian các đối tƣợng lao động đƣợc cung cấp phù hợp với quy trình công nghệ và trình tự lao động. Mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong lao động gồm: quan hệ giữa lao động quản lý và lao động sản xuất; quan hệ giữa lao động công nghệ và lao động phụ trợ; kết cấu từng loại lao động và số lƣợng lao động trong kết cấu đó; quan hệ hiệp tác giữa các loại lao động. Mối quan hệ giữa tƣ liệu sản xuất và sức lao động bao gồm: yêu cầu của máy móc thiết bị với trình độ kỹ năng của ngƣời lao động; yêu cầu điều khiển và công suất thiết bị với thể lực con ngƣời; tính chất đặc điểm của thiết bị tác động về tâm sinh lý của ngƣời lao động; số lƣợng công cụ thiết bị so với số lƣợng lao động các loại. Mối quan hệ giữa ngƣời lao động với môi trƣờng xung quanh: mọi quá trình lao động đều phải diễn ra trong một không gian nhất định, vì thế con ngƣời có mối quan hệ mật thiết với môi trƣờng xung quanh nhƣ: gió, nhiệt độ, thời tiết, địa hình, độ ồn… Nghiên cứu, nắm đƣợc và hiểu rõ các mối quan hệ trên để đánh giá một cách chính xác là vấn đề rất quan trọng làm cho quá trình sản xuất đƣợc hiệu quả tối ƣu e 8 đồng thời đem lại cho con ngƣời những lợi ích ngày càng tăng về vật chất và tinh thần, con ngƣời ngày càng phát triển toàn diện và có phúc lợi ngày càng cao.
Vai trò của lao động trong doanh nghiệp Lao động là yếu tố không thể thiếu, quyết định đến thành công kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Dù là doanh nghiệp sản xuất hay kinh doanh thƣơng mại, nếu thiếu đi yếu tố lao động thì việc sản xuất kinh doanh không thể thực hiện đƣợc [3]. Lao động đóng vai trò rất quan trọng trong các doanh nghiệp. Lao động tạo ra của cải vật chất cho doanh nghiệp cũng nhƣ cho toàn xã hội.
Nếu nhƣ không có lao động thì quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh không thể thực hiện đƣợc. Các nguồn lực khác nhƣ: đất đai, tài nguyên, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoa học công nghệ sẽ không đƣợc sử dụng và khai thác có mục đích nếu nhƣ không có lao động, Một doanh nghiệp mà có nguồn lao động dồi dào, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển mạnh [3]. Có thể nói đối với bất kỳ một doanh nghiệp hay một tổ chức nào cũng đƣợc cấu thành nên bởi các cá nhân. Trƣớc sự thay đổi nhanh chóng của cơ chế thị trƣờng, môi trƣờng kinh doanh cùng với xu thế tự do hóa thƣơng mại, cạnh tranh ngày càng gay gắt, vai trò của yếu tố con ngƣời – lao động trong các doanh nghiệp đã và đang đƣợc quan tâm theo đúng tầm quan trọng của nó.
Vì vậy vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải quản lý, khai thác và phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ, lao động của doanh nghiệp làm sao có hiệu quả, tạo nên đƣợc lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác. Lực lƣợng lao động này phải là những ngƣời có năng lực, đƣợc đào tạo cơ bản, có đạo đức, có văn hóa và đặc biệt là phải có phƣơng pháp làm việc có hiệu quả. Phân loại lao động trong doanh nghiệp Muốn có thông tin về số lƣợng lao động và cơ cấu lao động chính xác, phải tiến hành phân loại lao động. Việc phân loại lao động trong các doanh nghiệp nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu quản lý, tính toán chi phí sản xuất kinh doanh, theo dõi các nhu cầu lao động trong hoạt động kinh doanh, về trả lƣơng và kích thích lao e 9 động.
Chúng ta có thể phân loại lao động theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu. - Nếu chia theo hình thức hợp đồng, lao động đƣợc phân ra thành: Lao động hợp đồng không xác định thời hạn, lao động hợp đồng xác định thời hạn và lao động thời vụ [9]. - Nếu phân theo nghiệp vụ chuyên môn của ngƣời lao động có: nhân viên kinh doanh, nhân viên kế toán, công nhân sản xuất, quản lý bộ phận,. và nhiều vị trí lao động khác.
Mục đích của phƣơng pháp phân loại này là để tính toán, sắp xếp, và bố trí lao động trong từng nghiệp vụ chuyên môn, xác định cơ cấu lao động hợp lý từ đó có phƣơng pháp trả lƣơng và kích thích lao động đối với từng loại lao động của doanh nghiệp. - Nếu phân theo cơ cấu chức năng, lao động trong doanh nghiệp chia ra thành: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. (1) Lao động trực tiếp gồm những ngƣời trực tiếp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định. Đối với các doanh nghiệp thƣơng mại, bộ phận lao động này thƣờng chiếm tỷ trọng lớn và giữ vị trí chủ chốt trong việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ và các mục tiêu đã xác định của doanh nghiệp.
(2) Lao động gián tiếp gồm những ngƣời chỉ đạo, phục vụ và quản lý. Các vị trí lao động gián tiếp thƣờng bao gồm các nhân viên hành chính, nhân viên kinh doanh, nhân viên kế toán, nhân viên bảo vệ và nhiều vị trí khác trong doanh nghiệp. - Nếu phân loại theo trình độ chuyên môn thì thƣờng chia lao động theo cấp bậc và theo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học,. Ngoài ra, để phục vụ cho nhiều mục đích khác, lao động trong doanh nghiệp có thể đƣợc phân loại theo một số tiêu thức khác nhƣ: độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân,.
Tóm lại việc phân loại lao động trong các doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tuyển chọn, bố trí sắp xếp lao động một cách khoa học, nhằm phát huy đầy đủ mọi khả năng lao động của ngƣời lao động, phối kết hợp lao động e 10 giữa các cá nhân trong quá trình lao động nhằm không ngừng tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, tạo tiền đề vật chất để nâng cao thu nhập cho ngƣời lao động. Hiệu quả sử dụng lao động 1. Khái niệm hiệu quả sử dụng lao động 1. Khái niệm hiệu quả Hiệu quả là mối tƣơng quan so sánh giữa kết quả đạt đƣợc theo mục tiêu đã đƣợc xác định với chi phí bỏ ra để đạt đƣợc mục tiêu đó.
Để hoạt động, doanh nghiệp phải có các mục tiêu hành động của mình trong từng thời kỳ, đó có thể là các mục tiêu xã hội, cũng có thể là các mục tiêu kinh tế của chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp luôn tìm cách để đạt các mục tiêu đó với chi phí thấp nhất. Đó là hiệu quả [2]. Hiệu quả của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả xã hội là đại lƣợng phản ánh mức độ thực hiện các mục tiêu xã hội của doanh nghiệp hoặc mức độ ảnh hƣởng của các kết quả đạt đƣợc của doanh nghiệp đến xã hội và môi trƣờng.
Hiệu quả xã hội của doanh nghiệp thƣờng đƣợc biểu hiện qua mức độ thoả mãn nhu cầu vật và tinh thần của xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện lao động, cải thiện và bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Hiệu quả kinh tế là hiệu quả chỉ xét trên phƣơng diện kinh tế của hoạt động kinh doanh. Nó mô tả mối tƣơng quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt đƣợc với chi phí đã bỏ ra để đạt đƣợc lợi ích đó. Thực chất của hiệu quả kinh tế là thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian, nó biểu hiện trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu đã xác định.
Nó quyết định động lực phát triển của lực lƣợng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh của xã hội và nâng cao đời sống của loài ngƣời qua mọi thời đại. Chúng ta có thể khái quát mối tƣơng quan giữa lợi ích kinh tế và chi phí bỏ ra để có lợi ích đó bằng hai công thức sau: Thứ nhất, hiệu quả là hiệu số giữa kết quả và chi phí: e 11 HQ = KQ - CF (1) Trong đó: HQ là hiệu quả đạt đƣợc trong một thời kỳ nhất định KQ là kết quả đạt đƣợc trong thời kỳ đó CF là chi phí đã bỏ ra để đạt kết quả Đây là hiệu quả tuyệt đối. Mục đích so sánh ở đây là để thấy đƣợc mức chênh lệch giữa kết quả và chi phí, mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Cách so sánh này đơn giản và dễ tính toán nhƣng có một số nhƣợc điểm cơ bản nhƣ: không cho phép đánh giá chất lƣợng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; không có khả năng so sánh hiệu quả giữa các thời kỳ, giữa các doanh nghiệp với nhau; không phản ánh đƣợc năng lực tiềm tàng để nâng cao hiệu quả.
Dễ đồng nhất hai phạm trù hiệu quả và kết quả. Thứ hai, hiệu quả là tỉ lệ so sánh giữa kết quả đạt đƣợc với chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó. Đây là chỉ tiêu hiệu quả tƣơng đối.