Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chương 2: Thực trạng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Thành Công. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Vietcombank – chi nhánh Thành Công. 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNVVN CỦA NHTM 1.
Khái niệm và vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế 1. Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DNVVN có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước mình Các nhà hoạch định chính sách của các nước phân loại quy mô doanh nghiệp dựa trên các yếu tố như số lượng lao động thường xuyên, giá trị tài sản, vốn sản xuất, doanh thu, lợi nhuận, v. Các tiêu chí để phân biệt cũng rất đa dạng ở các quốc gia khác nhau. Chính phủ Việt Nam đã công bố Nghị định 56/2009 / NĐ-CP ngày 30/6/2009 thay thế Nghị định 90/2001 / NĐ-CP về hỗ trợ phát triển DNVVN. Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định, “DNVVN là cơ sở kinh doanh đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật và được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa dựa trên quy mô tổng vốn (tổng nguồn vốn tương đương), tương đương với tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân / năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”.
Doanh nghiệp được xếp vào loại siêu doanh nghiệp dựa trên ngành của họ.1 thể hiện số vốn và số lượng lao động của các doanh nghiệp nhỏ, vừa và nhỏ”: Bảng 1. Phân loại DNVVN theo quy mô vốn và số lao động. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đóng một vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia, cả phát triển và đang phát triển. “Trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, DNVVN đã đóng vai trò quan trọng trên nhiều lĩnh vực, bao gồm: bảo đảm nền tảng kinh tế ổn định và bền vững; tranh thủ tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển; đáp ứng nhu cầu của các thành phần kinh tế quốc dân một cách linh hoạt; nâng cao thu nhập và giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn dân cư; góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống.” Thứ nhất, quy mô hoạt động nhỏ bé Phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô nhỏ, vốn hạn chế và sử dụng ít người.
Do quy mô nhỏ nên kinh phí cũng hạn chế, phát sinh các vấn đề về mặt bằng sản xuất kinh doanh, trình độ công nghệ và quản lý hạn chế, thiếu kiến thức dẫn đến nhiều sai sót trong sản xuất. Vốn là đặc điểm dễ nhận thấy nhất.” Thứ hai, sức cạnh tranh còn thấp Do các DNVVN có vốn đầu tư ban đầu hạn chế, quy mô sản xuất kinh doanh khiêm tốn nên hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ mới, chất lượng sản phẩm kém, sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ thấp, do đó không hấp dẫn người tiêu dùng và không thể gia 5 tăng thị trường. Với những hạn chế về công nghệ, trình độ công nghệ thấp và năng suất lao động thấp, rất khó để các DNVVN cạnh tranh trên thị trường.” Thứ ba, năng lực quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của ở mức thấp.
Phần lớn các DNVVN đã thành lập có nguồn tài chính dựa vào tiết kiệm cá nhân cũng như nguồn lực gia đình (đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh). Do đó, người điều hành doanh nghiệp còn ít năng lực quản lý. “Nhiều cán bộ quản lý trong các DNVVN do Nhà nước làm chủ sở hữu vẫn thiếu bằng cấp điều hành và có hành vi quản lý kiểu gia đình. Chủ doanh nghiệp thường là những cá nhân chưa qua đào tạo về quản lý và đa số thiếu hiểu biết về pháp luật, mặc dù thực tế là pháp luật Việt Nam vẫn đang trong quá trình thay đổi và liên tục thay đổi.
Kết quả là năng suất lao động thấp, hiệu quả sử dụng vốn thấp, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ, khả năng bảo toàn vốn thấp. Do đó, khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của các DNVVN bị hạn chế.” Thứ tƣ, nhạy cảm với sự thay đổi của môi trƣờng kinh doanh Các áp lực bên ngoài đối với doanh nghiệp cũng gây ra hàng loạt vấn đề cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trước hết là tác dụng của công tác quản lý nhà nước đối với việc hoàn thiện pháp chế doanh nghiệp, chấp hành pháp luật doanh nghiệp, chính sách thuế, chính sách, chính sách thương mại, khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đào tạo, lao động việc làm. còn nhiều bất cập.
“Tác động của quản lý nhà nước đối với DNVVN trong khâu tổ chức vẫn còn nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng quan liêu, tham nhũng của một bộ phận công chứng viên quản lý nhà nước. Sự khan hiếm và hỗn loạn của các thị trường như thị trường vốn, thị trường thông tin và thị trường dịch vụ, cũng như nạn hàng giả và buôn lậu tràn lan gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh của các DNVVN”. Thứ năm, các DNVVN có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực thƣơng mại Hầu hết các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ vì nó có tốc độ luân chuyển vốn cao, không đòi hỏi vốn đầu tư lớn, không yêu cầu lao động 6 có trình độ cao, cho phép xuất nhập cảnh dễ dàng. Các công ty thương mại tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn với cơ sở hạ tầng phát triển, điều kiện giao thông lý tưởng, người tiêu dùng có thu nhập cao và nhu cầu lớn.
Cạnh tranh thường diễn ra mạnh mẽ do tập trung quá nhiều xí nghiệp trên cùng một địa bàn.” Thứ sáu, việc tiếp cận vốn trên thị trƣờng gặp nhiều khó khăn Vốn của một công ty được chia thành hai phần: vốn tự có và vốn nợ. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể bao gồm các khoản sau: vốn góp ban đầu, lợi nhuận chưa chia và vốn tăng thêm thông qua việc phát hành cổ phiếu mới (chỉ có công ty cổ phần mới được huy động vốn theo cách này). Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng và phát hành trái phiếu là nguồn vốn nợ của doanh nghiệp. Thông thường, cam kết vốn ban đầu chỉ đủ để xây dựng tài sản cố định cho doanh nghiệp.” Doanh nghiệp cần có nguồn tài chính ổn định và dài hạn để tăng cường sản xuất và kinh doanh, sửa chữa, mua sắm thiết bị mới, v.
Huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu là nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp nhưng chỉ một số loại hình doanh nghiệp mới được phép thực hiện (doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, hộ kinh doanh không được huy động vốn dưới hai hình thức trên ). Chỉ những tổ chức lớn có uy tín mới có thể mua được vốn thông qua thị trường chứng khoán; Các DNVVN chỉ mới thành lập gần đây, chưa tạo dựng được hình ảnh riêng biệt đối với công chúng; và thông tin về doanh nghiệp khan hiếm. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế đáng kể; rất khó để gây quỹ trong thị trường này mà không cần thiết lập một tên tuổi đầu tiên. Do đó, tín dụng từ các ngân hàng vẫn là phương tiện cung cấp tài chính chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ”.
Ưu điểm và hạn chế của DNVVN Từ những đặc điểm đã nêu tại phần 1.2 cho thấy các ưu điểm và hạn chế của loại hình DNVVN. Ƣu điểm Linh hoạt, có khả năng thích nghi nhanh với thị trường 7 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ mang có những lợi thế riêng biệt, chẳng hạn như khả năng đáp ứng nhu cầu hạn chế trong các thị trường chuyên biệt, khả năng sử dụng một số lượng lớn lao động có trình độ kỹ thuật trung bình thấp và khả năng thích ứng cực kỳ tốt, khả năng điều chỉnh nhanh chóng theo nhu cầu và thay đổi của thị trường.” Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thâm nhập thị trường mới mà không cần sự thông báo của các tổ chức lớn. “Họ sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa nhất, lấp đầy những khoảng trống quy mô vừa và nhỏ trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không thể lấp đầy vì họ tập trung vào những thị trường có khối lượng lớn. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một loại hình sản xuất với các địa điểm phân tán và một tổ chức gọn nhẹ, do đó nó có nhiều thế mạnh.” Thời gian thiết lập hoạt động nhanh chóng “Do cơ cấu tổ chức nhỏ và năng động, các DNVVN rất dễ thành lập và hoạt động.
Doanh nghiệp chỉ cần một ít tiền mặt để bắt đầu và các điều kiện sản xuất đủ dễ dàng để bắt đầu. Vì sản phẩm quay vòng nhanh chóng, bạn có thể dễ dàng sử dụng vốn tự có của mình hoặc vay tiền từ bạn bè và gia đình. Thiết bị nhỏ gọn, dễ thích ứng, dễ xử lý và dễ dàng quyết định. Nó giám sát cẩn thận hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời giảm thiểu sự sai lệch thông tin do sự giảm sút của người trung gian.” Đồng thời, do khả năng thích ứng và quy mô nhỏ, các DNVVN có thể nhanh chóng thay đổi hướng đi để đáp ứng nhu cầu thị trường, thúc đẩy tính năng động, sáng tạo, tự chủ và nhạy bén trong việc lựa chọn và thay thế sản phẩm.
Nhận thức được nhu cầu và thị hiếu liên tục thay đổi của người tiêu dùng, kết hợp với thần chú đa dạng hóa sản phẩm đã tạo ra nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mới nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng.