CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VE HOP DONG VAY TÀI SAN, LAI VÀ LAI SUAT TRONG HOP DONG VAY TAI SAN 1. Khai quát chung về hop đồng vay tài sản 1. Khái niệm về hop dong vay tài sản Từ xa xưa, khi sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất xuất hiện cũng là thời phát sinh ra sự phân hóa xã hội, xuất hiện các tầng lớp xã hội khác nhau, cách biệt về nền tảng kinh tế.
Khi người nghèo gặp phải những vấn đề khó khăn không thé giải quyết được thì họ phải đi vay, hình thức vay tài sản bằng hiện vật, hàng hóa, và những người giàu câu kế với nhau dé ấn định lãi. Hiện nay, trong nền kinh tế hàng hóa, các quan hệ được tiền tệ hóa. Mỗi cá nhân cần có nguồn vốn trong xã hội nhằm đáp ứng các nhu cầu của mình và tự chủ trong việc sử dụng nguồn vốn đó. Nhưng không phải lúc nào nguồn vốn đó cũng có thé được đáp ứng day đủ, dẫn đến tình trạng có chủ thé thì thừa hoặc có chủ thê thì thiếu vốn.
Đây cũng chính là lúc nhu cầu giao lưu vốn xuất hiện. Việc mượn vật, hàng hóa, và sau đó chính là biêu hiện thực tê cho việc “cho vay”. Cho vay là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Luôn luôn có ít nhất hai bên chủ thể tham gia quan hệ cho vay, bao gồm bên vay và bên cho vay.
Bên cho vay là những người có tài sản, có nhu cầu cho vay để thỏa mãn những lợi ích về mặt vật chất hoặc tinh thần thông qua việc cho vay. Còn bên vay chính là những người có nhu cầu về nguôn vôn. Khi xem xét quan hệ vay tài sản dưới góc độ của khoa học pháp lý, khái niệm HDVTS được nhìn ở nhiều phương diện khác nhau: (1) Theo phương diện khách quan: HDVTS được hiểu là tập hợp các quan hệ pháp luật do cơ quan nhà nước có thâm quyên ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ vay tai sản phat sinh giữa các chủ thé với nhau trong giao dịch dân sự. (ii) Theo phương diện chủ quan: HĐV TS là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhăm đi đến sự thoả thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhât định.
Giao dich vay tài sản là giao dịch dân sự phô biến va có hình thành lâu đời, tồn tại, phát triển song song VỚI su ton tai va phat triển của các quan hệ kinh tế, xã hội trong xã hội loài người. Từ thời La Mã cô đại, HDVTS được sử dụng rộng rãi, thời điểm đó, người dân gọi là hợp đồng vay nợ. Cụ thé, “Hợp đồng vay nợ là sự thoả thuận của hai bên, theo đó bên cho vay chuyên tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên vay (tiền, lương thực, thực phẩm, rượu, bơ sữa. Bên vay có nghĩa vụ trả vật cùng loại hoặc số tiền đã vay khi hết han của hợp đồng”.
Có thé thấy, khái nệm HDVTS đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử lập pháp và nó vẫn cồn giữ nguyên giá trị cho tới ngày nay bởi so với khái niệm về HDVTS của các nhà làm luật hiện dai cũng không có quá nhiêu sự khác biệt so với khái niệm gôc. Chang han: BLDS Pháp quy định: “HDVTS là hợp đồng theo đó một bên giao cho bên kia một số lượng vật sẽ bị tiêu hao khi sử dụng với điều kiện là bên kia phải trả lại vật cùng số lượng và chất lượng”. Định nghĩa này đã chỉ rõ đối tượng của HĐV TS là vật tiêu hao khi sử dụng. Tuy nhiên, BLDS Pháp không trực tiếp quy định yếu tô thoả thuận trong định nghĩa về HDVTS, mà sự thoả thuận đó được các nhà làm luật viện dẫn tại điều luật chung về hợp đồng - tại Điều 1101 BLDS Pháp quy định: “Hợp đồng là sự thoả thuận, theo đó một bên hoặc nhiều người cam kết với một hay nhiều người khác dé chuyên giao một vật, làm hoặc không làm một việc nao đó”.
Khái nệm HĐVTS đã được pháp luật nước ta ghi nhận qua các thời ky, chăng hạn, Bộ Dân Luật Sài Gòn năm 1972, tại Điều 1173 đã đưa ra định nghĩa khê ước vay nợ như sau: “Khê ước vay nợ là khê ước trong đó, một bên đương sự giao cho bên kia một số đồ vật sẽ bị tiêu thất do sự tiêu thu, người vay khi tới hạn sẽ phải hoàn trả đúng số lượng, cùng loại, cùng hạng như đồ vật đã vay, mặc dầu đồ vật ấy có tăng giá hay hụt giá”. Tuy nhiên, các nhà lập pháp chưa đề cập yếu tố thoả thuận của các bên khi thiết lập khế ước vay nợ. Đến BLDS 1995 và BLDS 2005 va gần nhất là BLDS 2015, HDVTS được quy định tách riêng thành một chế định, vì vậy khái niệm HDVTS cũng được quy định khá cụ thé tại Điều 467 BLDS 1995, Điều 471 BLDS 2005 và Điều 463 BLDS 2015. Chi tiết, Điều 467 BLDS 1995 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền hoặc vật; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả tiền hoặc vật cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.” Điều 471 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.” Và Điều 463 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nêu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.” Khái niệm được nêu tại 3 Điều luật trên về cơ bản hoàn toàn giống nhau và cùng thống nhất các đặc trưng của một HDVTS đó là sự thỏa thuận, đối tượng vay là tài sản nói chung và nghĩa vụ phải thực hiện hoàn trả vật tương tự.
10 Dé hiéu rõ hơn, cân phân tích rõ vê các đặc điêm pháp lý cua một HĐVTS, cụ thê như sau: 1. Đặc điểm pháp lý của Hợp đồng vay tài sản e Thứ nhất, HDVTS là một hợp đồng ưng thuận. HDVTS là hợp đồng ưng thuận hay hợp đồng thực tế? Hợp đồng này phát sinh hiệu lực pháp luật vào thời điểm nào: khi các bên thoả thuận xong nội dung cơ bản của hợp đồng hay kho bên cho vay đã chuyền giao tài sản cho bên vay? Tác giả Phạm Văn Tuyết cho rang: “HDVTS là hợp đồng thực tế, việc hứa cho vay không phải là căn cứ phát sinh quyền yêu cầu của bên đi vay trong hợp đồng”. Tác giả Bùi Đăng Hiếu đưa ra quan điểm khác: “HĐVTS là hợp đồng ưng thuận, có hiệu lực ké từ thời điểm giao kết.” Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện cũng đưa ra nhận xét: “HDVTS phát sinh hiệu lực ké từ thời điểm mà ý chí của các bên giao kết được ghi nhận theo hình thức do luật quy định (bang lời nói hoặc bằng văn bản), nếu không có sự thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác””.
Và “vay tài sản trong Luật dân sự Việt Nam không phải là một hợp đồng thực tế. Do đó người cho vay có nghĩa vụ giao tài sản cho người vay và người vay có nghĩa vụ nhận tài sản vay dù Luật không nói rõ”. Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện đã khăng định HDVTS là một hợp đồng ưng thuận và lý giải rằng quyên lợi và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi thoả thuận giao kết hợp đồng xong. Từ thời điểm này, nếu bên cho vay không thực hiện nghĩa vụ giao tài sản thì bên Ị Viện đại học mở Hà Nội, Giáo frình luật dan sự, tập 2, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 2 Học viện tư pháp, Giáo trinh luật dan sự, Nxb. Công an nhân dân, Ha Nội, 2007, tr. 3 Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam, Nxb.
Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr. 11 vay có quyền khởi kiện đưới góc độ là vi phạm nghĩa vụ được cam kết trong HĐVTS. Do vây, HDVTS là hợp đồng ưng thuận. Tuy nhiên, ông cũng đưa ra nhận xét, tuy là hợp đồng ưng thuận nhưng để buộc bên cho vay phải chuyên giao số tiền vay như đã cam kết là rất khó thi hành trên thực tế, kế cả bên vay có theo đuôi các thủ tục tư pháp; hậu quả nhiều lắm là bên vay chỉ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Như vậy, để khăng định hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực tế hay ưng thuận chúng ta phải xác định: quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh khi nào: khi giao kết hay khi chuyên giao tài sản vay cho nhau? Pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng vay tài sản, tuy nhiên đã có quy định về Hiệu lực của hợp đồng nói chung tại Khoản 1 Điều 401, BLDS 2015 như sau: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.” Điều 473 của BLDS 2015 quy định về nghĩa vụ của bên cho vay như sau: “ 1. Giao tài sản cho bên vay day đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thoả thuan;. Nhu vậy, theo quy định trên thì hợp đồng vay tài sản mang tính chất của hợp đồng ưng thuận, được phát sinh tại thời điểm giao kết. Cụ thé là néu hợp đồng vay được kí kết dưới hình thức miệng thì phát sinh hiệu lực khi đã thoả thuận xong nội dung cơ bản của hợp đồng (như số tiền cho vay, thời hạn giao tiền, lãi suất, thời hạn.); nếu hợp đồng vay được kí kết dưới hình thức văn bản thì phát sinh hiệu lực khi bên sau cùng kí vào văn bản.
Như vậy, sau 2 thời điểm nêu trên thì bên vay có quyền yêu cầu bên cho vay phải thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết, trong đó có nghĩa vụ buộc phải chuyển giao khoản tiền vay. Nếu bên vay từ chối không chuyên giao tiền vay như đã cam kết thì có thể sẽ chịu các trách nhiệm dân sự sau trước bên vay: k2 i.