Chương I: Xử ly hợp đồng kinh tế vô hiệu — những quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng Chương III: Một sốgiải pháp cơ ban nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về xử ly hợp đồng kinh tế vô hiệu CHƯƠNG | MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU VÀ XỬ LÝ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU I.1 BẢN CHAT CUA HỢP ĐỒNG VA CÁC YẾU TỐ CƠ BAN CUA HỢP ĐỒNG I.1 Ban chốt của hợp đồng Chúng ta đã định nghĩa: hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều người nhằm mục đích tạo lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ. Trước nhất hợp đồng là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của con người làm phát sinh các hệ quả pháp ly. Hợp đồng là một loại hành vi pháp lý cơ ban va thông dụng nhất. Hợp đồng là một hành vi pháp lý, hơn thế nữa đó là một hành vi pháp lý đặc biệt: sự thỏa thuận giữa các đương sự.
Các bên trong hợp đồng ít nhất phải có ý chí tạo lập giữa họ một quan hệ pháp lý trong đó một người phải thi hành một đòi hỏi cho người khác. Vậy do đâu mà có sự liên hệ ràng buộc giữa các bên trong hợp đồng? Câu trả lời đơn giản là: các đương sự bị ràng buộc với nhau vì họ muốn như vậy. Các hành vi xuất phát từ ý chí của các bên đã làm phát sinh hiệu lực ràng buộc chính họ. Các bên trong hợp đồng biểu lộ ý chí của họ nhưng hợp đồng chỉ được thiết lập khi có sự thỏa thuận giữa hai bên, khi có hai sự ưng thuận: một của chủ nợ và một của con nợ.
Chính sự gặp gỡ giữa hai ý chí tạo thành hợp đồng. Nói cụ thể hơn là các bên trong hợp đồng đều có chung một ý kiến, đều nhất trí với nhau để đạt được một kết quả nào đó. Vậy cơ sở của hợp đồng là sự thống nhất của các ý chí tứ do. Tuy nhiên không phải bất kỳ sự thống nhất ý chí nào cũng được coi là hợp đồng mà chỉ được coi là hợp đồng khi sự thống nhất ý chí đó là thực chất và không trái pháp luật.
Điều này chứng tỏ rõ ràng là hợp đồng thích hợp với lợi ích của các bên, không xâm phạm đến lợi ích của xã hội. Mỗi bên tham gia hợp đồng nhằm thỏa mãn những lợi ích riêng của mình trong phạm vi phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Khi sự thống nhất của các ý chí tự do là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ lam phát sinh ra các nghĩa vụ.,Nghĩa vụ này ràng buộc các bên như luật pháp. Nói cách khác hiện lực của hợp đồng là tao lập,.biến đổi hay chấm dứt một nghĩa vụ.
Một hợp đồng được thành lập hợp pháp có giá trị ràng buộc đối với các 10 bên. Bản thân hop đồng không phải là luật pháp, nhưng hợp đồng được thành lập theo luật pháp thì nó sẽ phát sinh hiệu lực pháp lý giữa các bên đương sự. Đây là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng được cả thế giới thừa nhận. Tóm lại, chúng ta có thể khẳng định rằng không thể có hợp đồng, nếu không có sự thỏa hiệp ý chí của tất cả các bên, hoặc nếu sự thỏa hiệp này không nhằm mục đích tạo lập hiệu lực pháp lý.
Nói một cách khái quát hợp đồng là sự thỏa thuận có tác dụng chuyển hóa các quan hệ kinh tế khách quan thành các quan hệ pháp luật cụ thể. Chính ở điểm này chúng ta thấy rõ hợp đồng là hình thức pháp lý để thể hiện các quan hệ kinh tế, xã hội. Một câu hỏi đặt ra là: bẩn chất của hợp đồng có mối liên hệ như thế nào đối với vấn đề vô hiệu của hợp đồng?. Nếu chúng ta hiểu bản chất của hợp đồng là sự thống nhất của các ý chí tự do, thực chất và không trái pháp luật thì sự vô hiệu của hợp đồng chỉ là những ngoại lệ, được áp dụng dưới những điều kiện khắt khe khi ý chí được hình thành trái pháp luật, khi sự thỏa thuận của các bên chứa đựng những khiếm khuyết hoặc là khi các bên không đủ năng lực và thẩm quyền ký kết hợp đồng.
Sự vô hiệu của hợp đồng là hệ quả tất yếu khi hợp đồng không chứa đựng đầy đủ các yếu tố cơ bản tạo nện bản chất của hợp đồng.2 Những yếu tố cơ bản của hợp đồng Một hợp đồng muốn tồn tại hợp pháp (được pháp luật công nhận, bảo vệ) và phát sinh hiệu lực cần phải hội tụ ba yếu tố đó là: sự thỏa thuận của các bên cam kết, năng lực của các bên cam kết và đối tượng xác thực cho sự cam kết. Chúng ta sẽ lân lượt xem xét ba yếu tố này. Yếu tố đầu tiên và là yếu tố quan trọng nhất của hợp đồng đó là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là sự ưng thuận giữa các bên tham gia hợp đồng. Phân tích sự thỏa thuận của các bên giao kết chúng ta thấy có hai yếu tố, đó là sự đề nghị ký kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị.
Thỏa thuận chính là sự kết hợp giữa hai yếu tố này. Hợp đồng chỉ được thiết lập khi có sự thống nhất của các ý chí tự do, khi có sự ưng thuận đích thực giữa các bên. Sự ưng thuận của các bên là điều kiện at có và đầy đủ cho sự hiện hữu:của hợp đồng. Không một đề nghị nào, không một sự chấp nhận nào là có giá trị nếu nó không xuất phát từ một ý chí sáng suốt và tự do.
Sáng suốt thì sự thỏa thuận được đưa ra với ý thức đầy đủ về 1] sự vat, sự việc, không nhầm lẫn, không bị lừa dối. Su đồng ý tự do là sự đồng ý không phải đưa ra vì bị cưỡng bức, do sự đe dọa. Như vậy là, ý chí đích thực của các bên, sự ưng thuận giữa họ là điều không thể thiếu trong hợp đồng nhưng ý chí đó phải phù hợp với ý chí của nhà nước, phù hợp với pháp luật. Nói cách khác ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, nhưng ý chí đó không tuyệt đối vì không thể trái với lợi ích chung của xã hội và trong những trường hợp đặc biệt ý chí đó phải nhường bước cho lợi ích chung.
Muốn có giá tri, muốn trở thành giao dịch hợp pháp, hợp đồng phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức. Sự thỏa thuận không thể hiện ý chí của các bên, không phù hợp với pháp luật thì không phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Yếu tố thứ hai là năng lực của các bên. Ý chí chỉ phát sinh nghĩa vụ khi nào các bên giao kết có đầy đủ năng lực cần thiết để tạo lập hợp đồng.
Chủ thể của hợp đồng có thể là cá nhân, pháp nhân có đủ điều kiện mà pháp luật quy định, nghĩa là họ có quyền và được phép ký các hợp đồng đó. Người ký kết hợp đồng phải là những người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Hiện nay năng lực và quyển ký kết hợp đồng của các chủ thể được quy định ở nhiều van bản pháp luật khác nhau. Yếu tố thứ ba của hợp đồng là đối tượng của hợp đồng.
Đối tượng của hợp đồng phải được chỉ định rõ ràng, phải có thể thực hiện được và phải hợp pháp (điều 287 Bộ luật Dân sự) Như vậy là, về nguyên tắc, các hợp đồng phải thỏa mãn tất cả các yếu tố trên mới làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.2 HOP ĐỒNG VÔ HIỆU, XU LÝ HOP ĐỒNG VÔ HIEU 1.1 Nhận thức chung về hợp đồng vô hiệu Bản chất của sự vô hiệu của hợp đồng thực ra là một trật tự pháp lý hồi tố đặc biệt làm vô hiệu những gì đã cam kết (ex tunce). Sự can thiệp của pháp luật đã vô hiệu hóa các giao dịch này đẩy chúng về tình trạng ban đầu. Theo nguyên tac thì một hợp đồng vô hiệu sẽ giải phóng hoàn toàn cam kết của các bên, không những cho tương lai mà còn cho quá khứ. Một hợp đồng vô hiệu là một hợp đồng không tồn tại theo luật, không có giá trị pháp lý, không có giá trị bắt buộc thực hiện, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với các bên tham gia hợp đồng từ thời điểm xác lập do có vi phạm pháp luật hoặc không thể hiện ý chí thực sự của các bên giao kết.
Khi hợp đồng vô hiệu, pháp luật không biết đến bất kỳ một quyền và nghĩa vụ nào ràng buộc các bên. Và ngay cả khi các bên đã tiến hành những hành vi theo cách thực hiện hợp đồng thì những hành vi đó cũng không phải là hành vi pháp lý, không phải là hành vi thực hiện hợp đồng. Một câu hỏi được đặt ra: Tại sao vấn đề xử lý hợp đồng vô hiệu lai cần được đề cập tới trong pháp luật hợp đồng? Như chúng ta đã biết, nói đến hợp đồng là nói dến sự thỏa hiệp ý chí, tức là sự ưng thuận giữa các bên với nhau. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chúng ta không thừa nhận tự do hợp đồng.
Trong cơ chế thị trường, chúng ta đã trả lại giá trị đích thực cho hợp đồng, thừa nhận nguyên tắc tự do hợp đồng. Tự do ý chí là yêu cầu, là yếu tố thuộc về bản chất của hợp đồng. Đương nhiên, tự do hợp đồng không phải là sự tự do tuyệt đối, mà là sự tự do trong giới hạn pháp luật. Nhà nước nhân danh quyền lực công - đại diện chính thống và chính thức cho xã hội - giới hạn sự tự do đó.
Sự hạn chế quyền tự do hợp đồng từ phía tổ chức công quyền không phải sự can dự một cách bất hợp lý vào nguyên tắc tự do hợp đồng mà là một bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện nguyên tắc này trong thực tế cuộc sống. Sự can thiệp của nhà nước vào quan hệ hợp đồng là việc làm bình thường của mọi nhà nước hiện đại. Sự bình thường này được hiểu theo nghĩa: nhà nước không lạm dụng đến mức xâm phạm thô bạo tới quyền tự do hợp đồng, mọi sự hạn chế quyền tự do hợp đồng của các bên đều phải được ghi nhận trong pháp luật, phù hợp với thực tiễn.