Chương I: Van dé chung về thẩm quyền, thẩm quyền chung về dân sự và vài nét về lịch sử giải quyết cắc tranh chấp dân sự của tòa án ở Việt Nam. Chương II: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xác định thẩm quyển chung về đân sự của Tòa án nhân dân. Chương II: Thẩm quyên chung về dân sự của Tòa án nhân dân theo luật thực định và những kiến nghị hoàn thiện. - Phần kết luận.
CHƯƠNG | VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẤM QUYỀN, THẤM QUYỀN CHUNG VỀ DAN SỰ VÀ VÀI NÉT VỀ LICH SỬ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN Ở VIỆT NAM 1.1 THẤM QUYỀN VÀ THẤM QUYỀN CHUNG VỀ DÂN SV. Theo quan điểm của các nhà luật học tư sản thì quyền lực nhà nước phải có sự phân chia rõ ràng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các cơ quan này thực hiện thẩm quyền trên cơ sở chức năng của mình. Thẩm quyền xuất phát trên cơ sở quyền lực nhà nước, nhưng quyền lực nhà nước phải được chế ước lẫn nhau bởi các cơ quan thực thi quyền lực để tránh lạm quyền.
Các nhà luật học theo thuyết tam quyền phân lập đã dựa trên tư tưởng của Montesquieu: “Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán đối với quyền sống và quyền tự do của công đân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết” [38, tr.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền lực nhà nước là: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chế giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Không ngừng hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, xác định rẻ chức năng, quyền han và sự phân công, phối hợp chặt chế giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền đó là nhiệm vụ thường phải đề cập và thực hiện trong mọi thời kì. Bộ máy nhà nước ta hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất nhưng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp lại phải có sự phân công, phân nhiệm trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc hoạt động thống nhất về quyền lực của bộ máy nhà nước. Các cơ quan này có những chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ riêng biệt và được xác định tương đối rõ ràng.
Cơ quan nhà nước này không thể thay thế cơ quan nhà nước khác thực hiện chức năng đã được xác định. Mỗi cơ quan nhà nước có những chức năng nhất định, chức năng ấy chỉ phối việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn của co quan đó. Sự phân biệt giữa cơ quan này với cơ quan khác theo chức năng chính là phân biệt sự khác nhau về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước. Thẩm quyền của cơ quan nhà nước bao gồm các lĩnh vực mà nhà nước đã ấn định cho cơ quan đó và trong quá trình thực thi quyền hạn của mình chính là bảo đảm sự hoạt động của cơ quan công quyền, thể hiện quyền lực của nhà nước.
Thẩm quyền là thuộc tính tất yếu của quyền lực của các cơ quan nhà nước. Tùy theo mỗi loại cơ quan mà pháp luật quy định có một hoặc nhiều quyền khác nhau. Ví đụ: Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; có quyền quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, về kinh tế, xã hội. và thực hiện quyền giám sát tôi cao đối với toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Chính phủ là cơ quan hành pháp của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất có quyền quản lí và điều hành xã hội trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.Viện kiểm sát nhân dân có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chức năng công tố. Tòa án nhân dân có quyền xét xử và giải quyết các vụ việc được giao. 10 Thuật ngữ thẩm quyền dùng để chỉ phạm vi,ranh giới của việc phân biệt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống cơ quan nhà nước này với hệ thống cơ quan nhà nước khác, thẩm quyền chung còn xác định pham vi,ranh giới hoạt động của các hệ thống cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền lực nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau hay trong cùng một lĩnh vực nào đó. Như vậy, thẩm quyên chung được hiểu theo nghĩa rộng của nó.
Khi nói đến thuật ngữ thẩm quyền, trong thực tiễn còn nói đến quyền hạn cụ thể. Bàn đến quyên han của một cơ quan hay chức danh nhà nước nào đó, người ta cũng sử dụng thuật ngữ thẩm quyền để phân biệt mức độ quyền hạn của cơ quan hay chức đanh nhà nước đó trong từng lĩnh vực. Ví dụ: Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử các loại án: hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động, hôn nhân và gia đình. Khái niệm thẩm quyền xét xử chỉ chức năng xét xử của Tòa án nhãn dan, trong đó có chức năng xét xử về dan sự.
Nhưng, khi nói đến thẩm quyền về đân sự thì không phải tất cả vấn để về dan sự đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dan. Thẩm quyền được hiểu theo nghĩa hẹp chính là quyển hạn cụ thể và được pháp luật quy định, vì vậy, nếu không xét từ góc độ phân biệt thẩm quyền chung giữa hệ thống cơ quan này với thẩm quyển chung của hệ thống cơ quan nhà nước khác, thì mỗi cơ quan nhà nước sẽ không có thẩm quyền riếng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Nhìn vào thẩm quyền chung có thể phân biệt được cơ quan nhà nước này với cơ quan nhà nước khác trong các lĩnh vực khác nhau và nhìn vào thẩm quyền cụ thể phân biệt được chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan trong cùng một hệ thống và thậm chí là phân biệt được cả quyền hạn từng cơ quan cụ thể theo cấp, theo địa hạt. Các khái niệm: thẩm quyền, thẩm quyền chung, thẩm quyền theo địa hạt, thẩm quyền theo sự lựa chọn, thẩm quyền giữa cơ quan cấp trên với cơ quan cấp dưới.
là những khái niệm ⁄ 4 a ⁄ + À a ki 2 ` dùng để chỉ các mức độ khác nhau về quyền hạn cụ thể của các cơ quan nhà 11 nước, các tổ chức và cá nhân của người có thẩm quyền trong hoạt động thực thi quyền lực của nhà nước. Trong giáo trình Lí luận về nhà nước và pháp luật (Dai học Luật Hà Nội 1994) có nhận xét là: “Các cơ quan nhà nước hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình. Thẩm quyền của cơ quan nhà nước là toàn bộ những quyền và nghĩa vụ mà nhà nước quy định cho cơ quan đó, phụ thuộc vào vị trí của mình trong bộ máy nhà nước, các cơ quan nhà nước khác nhau thì có thẩm quyền khác nhau” [21, tr. Đây mới là nhận xét về thẩm quyền chung và phần nào đó thể hiện được thẩm quyền theo nghĩa hẹp, mà chưa bao hàm được thẩm quyền theo nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng cơ quan hay cá nhân người có chức danh nhà nước.
Như trên đã phân tích, mỗi loại cơ quan có những quyền hạn cụ thể trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ mà luật quy định theo từng lĩnh vực. Trong lĩnh vực dân sự, có nhiều cơ quan có thẩm quyền với mức độ, tính chất khác nhau và được quy định rõ trong các văn bản pháp luật. Chẳng hạn, tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật đân sự: “Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm, thì chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyên khác: a) Công nhận quyền dân sự của mình; b) Buộc chấm đứt hành vi vi phạm; : c) Buộc xin lỗi, cải chính công khai; đ) Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; đ) Buộc bồi thường thiệt hại; e) Phat vi phạm.” Vấn dé đặt ra là trong cùng một lĩnh vực, các co quan nha nước khác nhau có thẩm quyền bảo vệ quyền dân sự ở những mức độ nào. Hay nói cách khác, sự phân biệt thẩm quyền giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan nhà nước khác trong lĩnh vực bảo vệ quyền dân sự phải được phân định cụ thể, rõ ràng như thế nào để tránh chồng chéo, dùn đẩy cho nhau.
12 Tòa án nhân dân có chức năng xét xử. Chỉ có Tòa án nhân dân mới có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các vụ việc tranh chấp về đân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình. Chức năng xét xử này các cơ quan nhà nước khác không thể có được. Chức năng xét xử và giải quyết các loại vụ việc phải theo trình tự và thủ tục tố tụng được pháp luật quy định chặt chẽ.
Nếu việc xét xử và giải quyết vi phạm thủ tục thì vụ việc được giải quyết đó cũng sẽ bị hủy bỏ. Những nguyên tắc hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân trong quá trình xét xử phải tuyệt đối tuân theo như: Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số; nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân đân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc xét xử công khai, trừ trường hợp pháp luật quy định khác; nguyên tắc quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm v. Tòa án nhân dân vi phạm các nguyên tac trên là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Về mặt pháp lí, chức năng xét xử của Tòa án nhân dân được Điều 127 Hiến pháp 1992 và Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định: “Tòa án nhân dan tối cao, các Tòa án nhân dan địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là cơ quan xét xử của nước Cộng hơà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Vì vậy, trong lĩnh vực dân sự, hệ thông Tòa án nhân dân lả những co quan nhà nước có chức năng xét xử, trong đó thẩm quyên xét xử và giải quyết các vụ việc dân sự để bảo vệ các quyền dân sự của Tòa ăn nhân dân khác với thẩm quyền bảo vệ các quyền dân sự của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.