Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TẬP DOAN KINH TE VA PHAP LUAT VE TAP DOAN KINH TE NHA NUOC 1. MOT SO VAN DE LY LUAN VE TAP DOAN KINH TE 1. Quan điểm về tập đoàn kinh tế 1. Một số quan điểm về tập đoàn kinh tế trên thế giới Hiện nay trên thé giới vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tập đoàn kinh tế.
Tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, khi nói đến khái niệm tập đoàn kinh tế người ta thường sử dụng các thuật ngữ như: consortium, conglomerate, cartel, trust, alliance, syndicate hay group. Trên thé giới, khái niệm về tập đoàn kinh tế bắt đầu xuất hiện vào khoảng cuối thé ky XVIII ở các nước phương Tây [17]. Sự ra đời của tập đoàn kinh tế vào thời điểm này gan liền với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật chuyền từ nền sản xuất thủ công sang nền sản xuất cơ khí hóa. Các tập đoàn kinh tế được hình thành dưới các quy luật tất yếu của nền kinh tế như: quy luật tích tụ tư bản và quy luật cạnh tranh.
Sự phát triển của nền sản xuất mà trước hết là về quy mô sản xuất đã khiến cho nhịp độ cũng như phạm vi tích tụ tư bản ngày càng tăng cao nên muốn đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, các doanh nghiệp buộc phải liên kết với nhau dé phát trién. Trong quá trình hoạt động của mình, doanh nghiệp thường xuyên phải cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp khác. Kết quả của quá trình cạnh tranh đối kháng đầy khắc nghiệt này là việc một hoặc một số doanh nghiệp giành được thắng lợi. Các doanh nghiệp này vẫn đứng vững trên thị trường và thực hiện việc thôn tính các doanh nghiệp bị đánh bại dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó có thể bao gồm cả việc biến những doanh nghiệp đó thành một bố phận của mình theo quy luật “cá lớn nuốt cá bé” hay nắm quyền kiểm soát băng cách mua những phần cô phiếu lớn.
Những xu hướng vận động này đã tác động trở lại nền kinh tế, góp phần đây mạnh quá trình tập trung và tích tụ tư bản. Đồng thời, quá trình tập trung và tích tụ này lai đưa đến nhu cầu liên kết về mọi mặt, trong đó yếu tố về vốn là điều cực kỳ quan trọng. Chính vì guồng quay này của nền kinh tế thị trường, các tập đoàn kinh tế được hình thành và phát triển với một quy mô, tốc độ cũng như mức độ liên kết ngày một chặt chẽ và to lớn và mạnh mẽ hơn. Bên cạnh nguyên nhân guồng quay của nền kinh tế thị trường, tập đoàn kinh tế được hình thành còn dưới ảnh hưởng to lớn của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và các cuộc khủng hoảng kinh tế thé giới.
Cách mạng khoa học kỹ thuật đã cải tiến công cụ lao động, làm tăng năng suất lao động, đây nhanh quá trình tích lũy vốn, mở rộng thị trường cũng như đây mạnh sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường. Dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật, các doanh nghiệp phải có nguồn lực đủ mạnh dé có thé đáp ứng được yêu cầu triển khai, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Điều này đã thúc đây hơn nữa nhu cau liên kết giữa các doanh nghiệp dé hình thành các tập đoàn kinh tế có nguồn vốn không lồ. Thêm vào đó là nhu cầu liên kết của các doanh nghiệp trước những lo ngại về ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế.
Tất cả những nguyên nhân trên đã dẫn tới sự ra đời của các tập đoàn kinh tế mà hiện nay, phạm vi hoạt động của nó đã vượt hắn ra khỏi biên giới quốc gia hay châu lục. Các nhà kinh tế học phương Tây cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa về Tập đoàn kinh tẾ, chăng hạn: “Tập đoàn kinh tế là một tập hợp các công ty hoạt động kinh doanh trên các thị trường khác nhau dưới sự kiểm soát về tài chính hoặc quan tri chung, trong đó các thành viên của chúng rang buộc với nhau bang các mối quan hệ tin cậy lẫn nhau trên cơ sở sắc tộc hoặc bối cảnh thương mại” (Leff, 1978); “Tập đoàn kinh tế là một hệ thống công ty hợp tác thường xuyên với nhau trong một thời gian dài” (Powell & Smith - Doesrr, 1934); “Tập đoàn kinh tế dựa trên hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ thông qua mỗi ràng buộc trung gian, một mặt ngăn ngừa sự liên minh ngắn hạn ràng buộc đơn thuần giữa các công ty, mặt khác ngăn ngừa một nhóm công ty sát nhập với nhau thành một t6 chức duy nhất” (Granovette, 1994) [18]. Như đã nói ở trên, hiện nay trên thế giới có nhiều thuật ngữ để nói về tập đoàn kinh tế. Các thuật ngữ này được gắn liền với cấu trúc ngôn ngữ của mỗi quốc gia.
Ở Nhật Bản, tập đoàn kinh tế (keiretsu) được xác định là một tổ hợp các doanh nghiệp độc lập về pháp lý, trong đó các doanh nghiệp nắm giữ cô phần của nhau và có mối quan hệ gắn bó về vốn, công nghệ, nguyên liệu, nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ sản pham. Thông thường, keiretsu bao gồm các công ty có sự liên kết không chặt chẽ được tổ chức qua một ngân hàng đề phục vụ lợi ích cho các bên. Trong keiretsu, có những doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng như: các ngân hàng thương mại, trung tâm thương mại quy mô lớn, tạo cho keiretsu có lợi thế lớn về vốn và đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh. Các doanh nghiệp thành viên thường nắm giữ cô phan lẫn nhau.
Do sở hữu cổ phan lẫn nhau và chịu ảnh hưởng của một ngân hàng và công ty thương mại chung nên các doanh nghiệp trong keiretsu thường có chiến lược kinh doanh giống nhau, phát huy khả năng hợp tác, tương trợ, đặc biệt là khi gặp khó khăn về tài chính. Bên cạnh đó, các công ty thành viên còn chia sẻ với nhau những bí quyết kinh doanh, kinh nghiệm quản lý và các cách thức tiếp thị, thâm nhập thị trường. Tông giám đốc của keiretsu thường được lựa chọn từ các doanh nghiệp thành viên và có quyền chi phối rất lớn đối với tập đoàn. Một số tập đoàn kinh tế lớn của Nhật hiện nay như là: UFJ, Toyota, Honda, Suzuki, Mitsubisi, Sumitomo.
Còn ở Han Quốc, tập đoàn kinh tế (chaebol) được hiểu là một liên minh gồm nhiều công ty hình thành quanh một công ty mẹ. Các công ty này có mối quan hệ liên kết về tài chính, chiến lược kinh doanh và sự điều phối chung trong hoạt động. Các doanh nghiệp trong chaebol năm giữ vốn góp, cô phần của nhau và không có sự tách bạch giữa quyền sở hữu với quyền kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trong tập đoàn thường do những người trong cùng một gia tộc nắm giữ quyền sở hữu và điều hành.
Về mặt pháp lý, chaebol không phải là một pháp nhân hay thực thê hữu hình. Các hoạt động kinh doanh được thực hiện thông qua các công ty thành viên. Quyền lãnh đạo tối cao đối với cả tập đoàn được tập trung vào chủ tịch hội đồng quản trị. Thông thường, chủ tịch hội đồng quản trị của tập đoàn là cổ đông lớn nhất, năm giữ phan lớn nguồn vốn của tập đoàn.
Một số tập đoàn kinh tế lớn của Hàn Quốc hiện nay như là: Samsung, Daewoo, LG, Huyndai motor. Ở Trung Quốc, tập đoàn doanh nghiệp hay tổng công ty được xác định là một t6 chức kinh tế được hình thành theo mô hình nhiều cấp liên kết bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác. Các doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập nhưng tập đoàn không có tư cách pháp nhân. Công ty mẹ là hạt nhân, là đầu mối liên kết các thành viên trong tập đoàn.
Sự liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên thường là mỗi liên kết về chức năng và về tài chính. Ngoài việc công ty mẹ nam giữ von của các công ty con, mỗi công ty thành viên trong tập đoàn có thé năm giữ phần vốn của các công ty thành viên khác [4:tr. Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng, các quan điểm về tập đoàn kinh tế ở mỗi quốc gia trên thế giới là không đồng nhất với nhau, mà có những điểm đặc thù. Nếu như mô hình tập đoàn kinh tế ở Nhật ghi nhận vai trò quan trọng của các tổ chức ngân hàng, tập đoàn kinh tế ở Hàn Quốc thì thé hiện dấu ấn của gia đình thì mô hình tập đoàn kinh tế ở Trung Quốc lại thể hiện đặc điểm có sự ràng buộc rất lớn với Nhà nước.
Thêm vào đó là việc quan điểm về tập đoàn kinh tế còn luôn được thay đổi dé phù hợp với những chuyền biến về điều kiện kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lich sử cụ thé. Tuy nhiên, tựu trung lại thì quan điểm về tập đoàn kinh tế ở các quốc gia đều thừa nhận rằng tập đoàn kinh tế chính là một tô hợp hay là sự liên kết giữa nhiều chủ thé kinh tế có chung lợi ích. Hay nói cách khác, bản chất của tập đoàn kinh tế chính là sự liên kết giữa các doanh nghiệp và sự liên kết đó phải thực sự chặt chẽ về rất nhiều phương diện như vốn, tài chính, công nghệ, nguồn lực, đào tạo, nghiên cứu, thông tin và các liên kết khác đảm bảo lợi ích của các doanh nghiệp thành viên. Mô hình liên kết được áp dụng phô biến nhất trong các tập đoàn kinh tế chính là mô hình công ty mẹ - công ty con (cau trúc holdings).
Quan điểm về tập đoàn kinh tế ở Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam, khái niệm tập đoàn kinh tế là một trong những vấn đề đang còn có nhiều quan điểm khác nhau. Các quan điểm này xuất phát từ có các nhận thức khác nhau về phương thức hình thành, nguyên tắc tổ chức hoạt động hay tư cách pháp nhân của tập đoàn. Trên thế giới, quá trình hình thành tập đoàn kinh tế ở các nước đó được tiễn hành một cách tuần tự, tuân theo các quy luật và có bề dày hình thành và phát triển. Trong khi đó, việc hình thành các Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam mới chỉ được tiễn hành trong những năm gan đây.
Do đó, khó tránh khỏi những hạn chế cũng như các cách hiểu không thống nhất với nhau về khái niệm, bản chất của Tập đoàn kinh tế. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, tập đoàn kinh tế được định nghĩa là một thực thé pháp ly, mà trong khi được sở hữu chung bởi một số người tự nhiên hoặc những thực thé pháp lý khác có thể tồn tại hoàn toàn độc lập khỏi chúng.