chương 1, luận văn trình bày sơ lược một số lý thuyết nền tảng vẻ hệ thống liên kết trong văn bản. Đặc biệt, chúng tôi chủ ÿ làm rõ các yếu tổ được sử dụng để thể hiện liên ất chủ đề và liên kết logic. Bên cạnh đỏ, luận văn cũng giới thiệu đôi nét về cuộc đời, quan điểm sáng tác, phong cách sáng tác. của Xuân Diệu và Xuân Quỳnh.
Đây sẽ là một trong những cơ sở quan trọngđể tiến hành nhận xét, đánh giá sự tương đồng và khác biệt trong việc thiết lập hệ thống liên kết nội dung trong các sáng tác của hai tác giá Tất cả kiến thức được trình bảy trong chương | sé giúp chủng tôi triển khai hiệu quả hơn chương 2 và 3 của luận văn. 10 Chương 2: Liên kết chủ đề trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh Trong chương 2, trước hết, chúng tôi tiễn hành khảo sát, phân tích các phương n liên kết chủ đẻ trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh. Tiếp theo, chúng tôi về đỏ hình và từ đó. tính toán độ liên kết chú đẻ, độ phức tạp chủ để của các văn bản được khảo sát Từ những kết quả đã đạt được, chúng tôi rút ra những đặc trưng trong cách xây dựng liên kết chủ để của từng tác giả.
luận văn sẽ đặt hai nhà thơ này trong thể đối sánh nhằm chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt giữa họ khi sir dung mang liên kết này. Chương 3: Liên kết logic trong thơ Xuân Diệu và Xuân Quỳnh Trong chương 3, trước hết, chúng tôi tiến hảnh khảo sát, phân tích các phương thức liên ket thé liên kết logic trong thơ Xuân Dị va Xuân Quỳnh. Tiếp theo, dựa vào lý thuyết ập luận, chúng tôi chỉ ra bản chất lập luận, xác lập các sơ đổ lập luận của các văn bản được khảo sát; từ đó, khái quát những “##;uôn ” lập luận thường gặp trong các sáng tác của hai nhả thơ. Từ những kết quả đã đạt được, chúng tôi rút ra những đặc trưng trong cách xây dựng liên kết logie của từng tác giá.
Cuối cùng, luận văn sẽ đặt hai tác giả này trong thể đối sánh nhằm chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt giữa họ khi sử dụng mảng liên kết này. Ngoài ra, luận văn cỏn có 4 phụ lụt ~ Phụ lục I: Bảng thống kê, phân loại các phương thức liên kết thể hiện liên kết nội dung trong các sáng tác được khảo sát của Xuân Diệu và Xuân Quỳnh, ~ Phụ lục 2: Bảng thống kê chỉ tiết độ liên kết chủ để, độ phức tạp chủ đề trong. các sáng tắc được khảo sát của Xuân Diệu và Xuân Quỳnh. ~ Phụ lục 3: Đô hình liên kết trong các sáng tác được khảo sát của Xuân Diệu va Xuân Quỳnh.
~ Phụ lục 4: Mô hình lập luận trong các sáng tác được khảo sát của Xuân Diệu và Xuân Quỳnh. Liên kết trong văn bản 1. Khái niệm văn bản “ăn bản " là một trong những thuật ngữ nhận được khá nhiều sự chú ý của giới nghiên cứu. Do vậy, tổn tại không ít quan điểm khác nhau về nó.
Dưới đây, chúng. tôi xin dẫn một số cách hiểu tiêu biểu về văn bản và hệ thống hóa chúng thành các hướng chính như sau: (1) Hưởng thiên về nhắn manh hình thức: ~ “Văn bản được xét như một lớp phân chia được thành các khúc đoạn. Tiếp theo, các khúc đoạn đỏ lại được lẫy làm các lớp, và đến lượt mình, chúng được phân chia thành các khúc đoạn, và cứ thế cho đến chừng nào sự phân chia kết thúc. " (Dẫn theo [11, tr.
Hịemslev, 1953), ~ “Hăn bản được hiểu ở bậc điền thẻ là phát ngôn bắt kỳ có kết thúc và có liên kết, có tính chất độc lập và đứng vẻ ngữ pháp. " (Dẫn theo [I1, tr. Koch, 1966) ~ “Văn bản là một chuối tiếp của các đơn vị ngôn ngữ được làm thành bởi một đây chuyển của các phương tiện thể cỏ hai chiều đo”. " (Dẫn theo [11, tr.
" (Dẫn theo [29, tr. - “Van ban la don vi co ban (fundamen tal unit) của ngữ nghĩa học và không nên định nghĩa nó như là một loại trên câu. ” (Dần theo [29, tr. “Nên xem xét một văn bản như là một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải cúa hình thức mà là của ý nghĩa.
" (Dan theo [11, tr. Halliday, 1976), * “Hai chiéu do (dimensions) duoc hiểu lã sự tính toán trên truc doc va sw tink todn trên trực ngang, cũng với sự thay thể của các phương tiện ngồn ngữ °[II, tr 9S] 12 ~ “Hân bản là điều thông báo viết có đặc trưng là tính hoàn chính về trúc và thải độ nhất định của các tắc giả đối với điểu được thông báo [. Lễ phương diện cú pháp, văn bản là một hợp thể gồm nhiều câu (it khi là một câu) liên kết với nhan bởi ý và bằng các phương tiện từ vựng ~ ngữ pháp. " (Dẫn theo [11, tr.
(3) Hướng tông hợp: ~ “Eăn bản — đó là sản phẩm của quá trình sáng tạo lời mang tỉnh cách hoàn chỉnh, được khách quan hóa dưới dạng tài liệu viết, được trau truốt văn chương theo loại hình tài liệu ấy, là tác phẩm gôm tên gọi (đầu đẻ) và một loạt đơn vị riêng (những thể thống nhất trên câu) hợp nhất lại bằng những liên hệ khác nhau về từ vựng, ngữ pháp, logic, tụ từ. có một hướng nhất định và một mục tiêu thie dung.” (Dẫn theo [29, tr38], (L Galperin, 1981) - Trong quyén “The encyclopedia of language and linguistics - Vol 10” [§3, tr5180], (1994), van ban đã được định nghĩa chỉ tiết, tương ứng với ba lĩnh vực nghiên cứu: ngôn ngữ học nói chung, văn học và phân tích diễn ngôn. Chúng tôi tạm dịch như. Một đoạn văn viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đề tài ~ chủ đề.
của nó, tạo thành một thể thông nhất, chẳng hạn như một câu chuyện, một bài thơ, một công thức, một biển bảo giao thông. [ấn học, trước liễt xem nó như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa với sách, LJ. “Trich dẫn nguyễn vin tir “The encyelopedia oflanguage and linguistics Vol 10" [83, tr S180] "Text: 1. A stretch of writing or utterance, large or small, which by reason of itx structure, subject matter, ete.
story; poem, recipe, road sign, ete 2. Lit primarily seen as written material, freg. synonymous with book, eg. In DISCOURSE ANALYSIS, sometimes equated with written language, discourse being reserved for spoken language.
or discourse in used in such a way that is subsumes text. Trong PHÁN TÍCH DIỄN NGÔN, văn bản đôi khi được hiểu tương đương với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dành riêng cho ngôn ngữ nói. hoặc diễn ngôn được dùng chung để chỉ cá ngôn ngữ nói lẫn ngôn ngữ viết (uăn bản). " ~ “ăn bản là một hệ thông mà trong đó các câu mới chỉ là phần tử.
Ngoài các câu - phần tứ, trong hệ thông văn bản còn có câu trúc. Câu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mỗi quan hệ của nỏ với những câu xung quanh nỗi riêng và với toàn văn bán nói chưng. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ dy.19], (Tran Ngọc Thêm, 2006), Trong bài “Đọc thêm về định nghĩa văn bản va dac trung cia van bin” (10, tr.57], Diệp Quang Ban cho rằng, quyền “7he encyclopedia oƒ language and linguistics - Vol 10” da dura ra định nghĩa 'vừa có tỉnh khái quất cao, bao gồm được nhiều quan niệm vé van bén cho dén nay, [.] viea cé tim rộng cần thiết. báo gảm cá cách hiểu văn bản trong văn học và trong bộ môn phân tích diễn ngôn Ƒ.
Chúng tôi cũng. nhận thấy, đây là một định nghĩa có tính bách khoa cao, giúp nhận diện được văn bản trong nhiều trường hợp khác nhau. Do vậy, trong quá trình triển khai luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng định nghĩa này. Bên cạnh thuật thuật ngữ "văn bản” (text), trong giới nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay còn tổn tại thuật ngữ “điển ngôn ” (discourse).
Chúng thường gây nhằm lẫn trong thực tiễn sử dụng. dy, dưới đây. chúng tôi sẽ đi vào phân biệt rõ sự tương đồng và khác biệt giữa hai thuật ngữ nảy, Trong “Giao tiép diễn ngôn và cấu tạo của văn bản ” [L1], Diệp Quang Ban chia thành ba hướng phân biệt chính: (1) Ở hưởng thứ nhất, các nhà nghiên cứu phân chia tất cả các sản phẩm ngôn ngữ thành hai loại hoằn toàn đối lập nhau, không giao thoa, không chồng chéo, tức đã là cái này thì không thể là cái kia: ~ Loại thứ nhất, luôn tồn tại dưi dạng viết, được gọi là văn bản. ~ Loại thứ hai, luôn tổn tại dưởi dạng nói.
được gọi là diễn ngôn. Mất quan hệ giữa “văn bản" và “diễn ngôn” theo cách hiểu thứ nhất Tuy nhiên, cách phân chia này gặp phải một số trở ngại không thể giải quyết Chẳng hạn, nếu một diễn giả, đang trình bảy lại một bải viết đã chuẩn bị sẵn, thì quá trình này sẽ thuộc về diễn ngôn hay văn bản? Hoặc giả có một học sinh, ghỉ chép lại lời nỏi của một người bạn đang thuyết trình, vậy quá trỉnh nảy sẽ thuộc về văn bản hay. diễn ngôn? Liệu rằng, hai khái niệm văn bản và diễn ngôn có thực sự đối lập nhau? Hay phải chăng, có một sự giao thoa nhất định giữa diễn ngôn và văn bản? (2) Ở hưởng thử hai, các nhà nghiên cứu lại cho rằng, trong mỗi sản phẩm ngôn ngữ đều có những đặc điểm vừa thuộc về văn bản vừa thuộc về diễn ngôn. Hưởng nảy được đánh giá là một quan điểm khá thú vị, và được thể hiện cụ thé hon qua hai góc nhìn khác nhau: (a) Mỗi sản phẩm ngôn ngữ.
đều có phần văn bản, thuộc về ly luận trừu tượng; và phẩn diễn ngôn, thuộc về cái cụ thé, là cái hiện thực hóa những lý luận trừu tượng của văn bản. Văn bản ————>, Diễn ngôn hiện thực thye hóhie (cấu trúc chung) Capa văn bản) Hình 1. Mỗi quan hệ giữa “văn bản” và “diễn ngôn" theo cách hiểu thứ hai (a) (b) Mỗi sản phẩm ngôn ngữ đều có những sự liên kết thuộc về văn bản, đó là những liên kết thuộc hình thức văn bản và hoàn toàn không tính đến ngữ cảnh. Còn những chuỗi ngôn ngữ trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích.
có liên quan đến những ngữ cảnh tình huống nhất định, sẽ thuộc về diễn ngôn. 15 Diễn ngôn Văn bản (nghĩa - logic, ——+ s (bề mặt ngôn từ) chức năng) Hình 1. Mỗi quan hệ giữa “văn bản" và *diễn ngôn” theo cách hiểu thứ hai (b) (3) Ở hướng thứ ba, các nha nghiên cứu cho rằng, tắt cả các sản phẩm ngôn ngữ. đều tổn tại dưới tên gọi diễn ngôn.