Chương I SU’ HINH THANH CUA “VANH DAI DIET MI” SON - AN - NGUYEN 1. Tình hình vùng đất Sơn - An - Nguyên đến trước năm 1966 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội Sơn - An - Nguyên là vùng đất nay bao gồm các xã: Phong Sơn, Phong An, Phong Xuân, Phong Thu, Phong Mỹ, Thị trắn Phong Điền thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa bàn của ba xã này nằm dọc chân núi Trường Sơn, chạy dài từ Bắc sông Bồ đến Nam sông Mỹ Chánh.
Sơn - An - Nguyên tọa tại vị trí trung tâm của huyện Phong Điền, phía Bắc giáp với huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị, phía Nam, Tây Nam, Đông Nam giáp với các huyện Hương Trà, A Lưới, Quảng Điền, phía Đông giáp với các xã Phong Hiền, Phong Hòa của huyện Phong Điền 'Vào thời vua Trần Anh Tông năm Hưng Long thứ 14 (1306), chúa Chiêm Thành là Chế Mân sai sứ sang cầu hôn, vua Trằn gả Huyền Trân công chúa cho Chế Mân và Chế Mân dâng đắt châu Ô, châu Lý làm lễ cưới, Năm Hưng Long thứ 15, vua Trần đổi châu Ô, châu Lý thành châu Thuận, châu Hóa. Như vậy từ năm 1307, Sơn - An - Nguyên thuộc châu Hóa của nước Đại Việt. Dưới thời Pháp thuộc, Phong Điền là một huyện thuộc tỉnh Thừa Thiên, xứ Trung Kỳ, huyện ly đóng tại làng Ưu Điềm. Huyện được chia thành 5 tổng: Vĩnh Xương, Chánh Lộc, Phò Trạch, Phò Ninh, Hiển Lương với 51 làng, 01 xóm vạn, dân số trên 40.
Sơn - An - Nguyên thuộc 02 tổng Phò Trạch va Phd Ninh. Từ sau năm 1954, chính quyền Sài Gòn tiến hành chia nhỏ các quận và cải biến các nha đại diện hành chính thành quận cho thống nhất toàn tỉnh. Ngày 17-5- 1958, Bộ trưởng nội vụ chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 214-HV/P6/NĐ, tổ chức lại hành chính tỉnh Thừa Thiên, tinh ly đóng tại Huế, gồm có 9 quận. Vùng đất Sơn - An - Nguyên thuộc quận Phong Điền.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), huyện Phong Điển (bao gồm các xã trước đây chuyên cho quận Hương Điền) thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và từ tháng 5-1976 thuộc tỉnh Bình Trị Thiên. Tháng 3-1977, huyện Phong Điền cùng với hai huyện Hương Tra và Quảng Điền hợp nhất thành huyện Hương Điền. Đến ngày 29-9-1990, huyện Hương Điển được chia thành 3 huyện: Hương Trà, Phong Điền và Quảng Điền. Sơn - An - Nguyên thuộc huyện Phong Điền cho.
Về vị trí địa lý kinh tế, Sơn - An - Nguyên là một vùng gò đồi tiếp giáp đồng. bằng, phần lớn diện tích là gò đồi, có những thung lũng tạo nên những đồng bằng nhỏ hẹp, địa hình thấp dần từ Tây sang Đông. Địa hình có nhiều khe suối đặc biệt có hai con sông Bồ và sông Ô Lâu chảy qua. Với điều kiện tự nhiên như vậy, kinh tế chính của người dân nơi đây từ xa xưa cho đến nay vẫn là nông nghiệp.
chính nơi cung cắp nhiều lương thực, thực phẩm cho cán bộ, bộ đội địa phương và dân quân du kích hoạt động trên vành đai Sơn - An - Nguyên. Về văn hóa, Sơn - An - Nguyên có truyền thống văn hóa lâu đời nằm trong vùng giao thoa văn hóa Việt - Chăm. Các thế hệ cư dân ở đây từ đời này sang đời khác lao động cần cù, dũng cảm đương đầu với biết bao khó khăn, vắt vả. Tắt cả những tố chất đó đã góp phần nên những chiến tích to lớn trong lịch sử đấu tranh giành, giữ và xây dựng đất nước nói chung và nhân dân ba xã Sơn - An - Nguyên nói riêng.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mi, cả ba xã đều được phong tăng danh hiệu Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân của huyện Phong Điển [61, tr. Truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Sơn - An - Nguyên đến trước 1966 Từ xa xưa, nhân dân Thừa Thiên Huế nói chung và nhân dân Phong Điển, Sơn - An - Nguyên nói riêng đã tham gia vào các phong trào yêu nước, chống ngoại xâm, cũng như nhân dân cả nước vào thế kỷ XIX nhân dân nơi đây đã anh dũng đứng lên chống ách áp bức bóc lột của thực dâi phong kiến. Sau Hiệp định Genève (21-7-1954), Mĩ thay chân thực dân Pháp thống trị miễn Nam, thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ, đồng thời dùng miền Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc, ngăn chặn phong trào cách mạng thế giới tràn xuống Đông Nam Á và uy hiếp các nước. xã hội chủ nghĩa khác 9 Ngày 16-6-1954, Mĩ dựng lên chính phủ Ngô Đình Diệm.
Ngô Đình Diệm thi hành một loạt chính sách phản động, từ chối hiệp thương tổng tuyển cử, tiến hành bầu cử quốc hội lập hiến ở miền Nam và ban hành Hiến pháp 1956, lập đảng Cần lao nhân vị, phong trào cách mạng quốc gia, Thanh niên cộng hòa, Phụ nữ liên đ đồng thời khủng bố tàn bạo những người tham gia kháng chiến. Các luật lệ phát xit liên tiếp được ban hành, tiêu biểu là luật 10/59 (5-1959), quy định việc thành lập các tòa án quân sự đặc biệt, đặt những người cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 khóa II (7-1954), mà nội dung cơ bản là chuyển cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam từ đấu tranh. vũ trang sang đấu tranh chính trị, ngày 24-8-1954, Tinh ủy Thừa Thiên tổ chức Hội nghị cán bộ toàn tỉnh tại chiến khu Hòa Mỹ.
Hội nghị đã quyết định một số vấn đề cấp bách như: Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh hợp pháp và không hợp pháp, lấy hoạt động bí mật là chính; hình thức và phương pháp đấu tranh phải linh hoạt, kết hợp đấu tranh chính trị với khẩu hiệu đòi quyền dân sinh dân chủ cho mọi tầng lớp nhân dân; tuyệt đối không để bộc lộ lực lượng nhưng cũng không vì giữ bí mật, giữ lực lượng mà thủ tiêu đấu tranh; về địa bàn phải coi trọng cả thành thị và nông thôn. Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy do đồng chí Lê Cương làm Bí thư, nhân dân Phong Điền trong đó có nhân dân Sơn - An - Nguyên đã day lên một phong trào đấu tranh sôi nỗi đòi địch thi hành hiệp định Giơnevơ, chống khủng bố những người kháng chiến và đòi quyền dân sinh dân chủ. Từ cuối năm 1957, các Huyện ủy viên và cán bộ còn lại của Phong Điền chuyên hướng hoạt động lên miễn núi. Sơn - An - Nguyên trở thành căn cứ địa của huyện.
Nhiều gia đình người dân tộc đã hết lòng nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ, đồng. cam công khổ đề vượt qua cơn khó khăn trước mắt. Giữa lúc phong trào cách mạng miền núi có những bước chuyên biến quan trọng thì Nghị quyết 15 (1-1959) của Ban Chap hành Trung ương Đảng (khóa II) về đường lối cách mạng miền Nam được truyền đến. Nghị quyết chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mĩ và tay sai, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam.
hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. 10 Thực hiện nghị quyết Hội nghị Liên khu ủy 5 (tháng 4, 5- 1960) là “cứng có, mở rộng và nói liền các trung tâm căn cứ, tiến lên thực sự làm chủ ở rừng núi " [43, tr. Tháng 10-1960, Tỉnh ủy chủ trương phát động đồng khởi miền núi, giành chính quyền về tay nhân dân, qua đó góp phan phát triển đường giao thông chiến lược và xây dựng miền núi thành căn cứ địa vững chắc của toàn tỉnh. Tháng 12-1960, Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Tây và các xã được thành lập.
Tại Sơn - An - Nguyên, một số cơ sở cách mạng và chỉ bộ Đảng được xây dựng ở các xã Phong Nguyên, Phong Sơn. Ở Phong An và Phong Sơn có 10 thanh niên tham gia thoát ly, tham gia cách mạng. Từ năm 1961, để đối phó với cách mạng miền Nam đang trên đà phát triển mạnh, nhất là từ sau phong trào đồng khởi của quân và dân ta, Mĩ đã dé ra chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”. Thực hiện chiến lược này, ở Thừa Thiên Huế, Mĩ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ra sức bình định đồng bằng, lập phòng tuyến ngăn chặn ở Bắc đường 9 và Tây Trị - Thiên, đồng thời tập trung đánh phá miền núi và tuyến đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn.
Để kịp thời lãnh đạo cuộc đấu tranh chồng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mĩ, từ ngày 21 đến ngày 26-4-1961, Đại hội Đảng bộ Thừa Thiên Huế đã họp tại làng Ta Pát (các đồng chí Nguyễn Văn Minh, Cao Chánh Hạo, Nguyễn Thắng là đại biểu của Phong Điền trong số 52 đại biểu tham dự). Quán triệt đường lối cách mạng miền Nam do Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng vạch ra và Nghị quyết của Liên Khu ủy (2-1961), Đại hội đề ra nhiệm vụ là phải nhanh chóng phát triển lực lượng, tiến công từ rừng núi xuống đồng bằng, đây mạnh tuyên truyền và hoạt động vũ trang, phá tan ấp chiến lược, diệt ác trừ gian, xây dựng cơ sở: chính trị rộng rãi trong quần chúng, kiên quyết giành dân, giành quyền làm chủ, dua chiến tranh cách mạng phát triển lên một bước. Về phương châm đấu tranh, Đại hội xác định lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh vũ trang. và sử dụng song song hai hình thức đấu tranh chính trị và quân sự; ở miền núi lấy đấu tranh quân sự là chủ yếu, vùng giáp ranh và đồng bằng đây mạnh đấu tranh chính trị, nhanh chồng tạo thế liên hoàn giữa ba vùng chiến lược.
"II Sau Đại hội, dưới sự lãnh đạo Huyện ủy Phong Điền do đồng chí Nguyễn Văn Minh làm Bí thư tại các xã Phong Sơn, Phong An đã tô chức vũ trang tuyên truyền. Bên trong các ấp chiến lược bắt đầu có cán bộ bám trụ, xây dựng cơ sở bí mật 'Nhân dân Sơn - An - Nguyên đã cùng với Đại đội KI05 của tinh liên tục phá rào ấp chiến lược ở Phong Sơn, Phong An.