Chương 1: CAC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIÊN CỦA GIÁO DỤC MALAYA TU NAM 1816 DEN NAM 1957 1. Malaya trở thành thuộc địa cũa Anh (1786 - 1957). Anh xâm chiếm Malaya. Trước khi người Anh đến, Malaya đã từng là thuộc địa của Bồ Đào Nha trong 130 năm (1511 — 1641).
Sau sự ra đi của Bồ Đào Nha, từ năm 1641, Malaya tiếp tục chịu sự chỉ phối của thực dân Hà Lan. Vào cuối thế kỉ XVIII, với sức mạnh vượt trội về công nghiệp và hàng hải, Anh bắt đầu tiền lên cạnh tranh thương mại vài thuộc địa với Hà Lan ở Đông Nam Á. Malaya từ chỗ là thuộc địa của Hà Lan từng. bước chuyển sang tay người Anh.
Năm 1786, do sự cần thiết phải bảo vệ những lợi ích thương mại của mình, đặc biệt là trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, thông qua công ty Đông Án Anh (East India Company - EIC), Anh chiếm đảo Penang. Sau đó, theo nội dung. của các thỏa ước với chính phủ Hà Lan năm 1795, EIC được phép chiếm đáo Malacca cùng với nhiều đáo thương mại khác. Nhưng theo Hiệp định Amiens (802) thì Anh sẽ phai tra Malacca cho Hà Lan.
Trước nguy cơ mắt Malacca ~ cửa ngõ then chốt ra vào vùng biển Đông Nam Á, Anh tích cực tìm kiếm một căn cứ. thương mại, hải quân khác ở phía Nam của vùng eo biển. Trong bối cảnh đó, Singapore được xem là một địa điểm lí tưởng bởi theo Raffles, Singapore ngoài việc có thể trở thành một thương cảng lớn của thể giới, nó cũng có thể là một pháo đài lớn ở vùng biển Đông Nam A. Do đó, năm 1819, Anh chiếm đảo Singapore bằng một hiệp định với vua của Johor.
'Từ những căn cứ được xác lập ở Penang và Singapore, Anh tiền lên kí với Hà Lan Hiệp ước Anh - Hà Lan năm 1824. Theo đó, Anh sẽ nhường cho Hà Lan một số quyên lợi khác để Hà Lan trao Malacca cho Anh. ‘Nam 1826, sau khi hợp pháp quyền cai trị của minh, Anh thực hiện sáp nhập Penang, Singapore, Malacca thành một đơn vị hành chính lấy tên là Khu định eu Eo biển (Straits Settlements ~ SS). Penang duge chon la trung tim của SS.
Từ năm 1832, vai trò trung tâm được chuyển sang cho Singapore. Ban đầu, Khu định cư Eo. 14 biển trực thuộc sự quản lí của EIC tại Calcuta (Ấn Độ). Từ năm 1851, SS thuộc Bộ.
Án Độ và từ năm 1867 trở đi, SS nằm dưới sự điều hành trực tiếp của Bộ Thuộc địa Anh tại Luân Đôn. Đứng đầu SS là một viên Thống đốc Anh, sau này được đổi thành chức Toàn quyền (1867) với quyền hành rất lớn. Cuối thế ki XVII, người Anh tiếp tục mở rộng sự ảnh hưởng đối với các tiểu quốc Malaya khác. Năm 1871, nhân cơ hội tiểu quốc Perak thỉnh cầu sự giúp.
đỡ của người Anh trong vấn để kế vị ngai vàng, Anh kí với Perak Hiệp ước Pangkor (1784). Theo đó, Perak chính thức chấp nhận sự bảo hộ của Anh. Pangkor đã thực sự dọn đường cho sự xâm nhập của Anh vào Malaya thông qua thiết chế Công sứ (Resident System). Trong những năm tiếp theo, bằng các thỏa thuận tương tự, Công sứ Anh có.
Về mặt hình thức, chế độ Công sứ được lập ra bởi các Quốc vương Malay thỉnh. cầu sự giúp đỡ của Anh, nhưng trên thực tế, việc này được thực dân Anh tiến hành bằng phương thức phối hợp giữa thuyết phục, đàm phán với sử dụng vũ lực, gây sức ép để buộc các tiểu quốc chấp nhận vai trò của Công sứ Anh. Ở cả 4 tiểu quốc, theo thỏa thuận thì các Quốc vương Malay giữ vai trò là Chủ tịch các Hội đồng bang, Công sứ Anh, các quan chức chủ yếu là người Malay và hai hoặc ba thương, nhân người Hoa là thành viên Hội đồng. Hội đồng bang bàn bạc mọi van dé quan trọng của bang bằng tiếng Malay, thông qua tắt cả các văn bản pháp luật, phê duyệt dự trù thu chỉ hàng năm của bang, quyết định việc bổ nhiệm các quan người Malay.
Công sứ Anh giúp giải quyết các vấn đề duy trì luật pháp, trật tự xã hội, tổ chức hệ thống ngành dân chính, lực lượng cảnh sát, quân đội. Nhưng thực tế, ở các tiểu quốc Malay được bảo hộ, chính Công sứ Anh lại là người cai trị chứ không phải là cố vấn và họ nhận lại sự cố vấn của các quan Malay trong các vấn đẻ tôn giáo và phong tục tập quán. Trên cơ sở nhất trí của cả bốn Quốc vương Malay, bốn tiêu quốc đã được. sáp nhập lại với nhau trong thể chế liên bang và được gọi là Liên bang các bang.
Malay (Federation of Malay States - FMS) vio nam 1896. Sau Hiệp định Liên bang, các tiểu quốc (Sultanate) trước kia giờ được gọi là các bang (State). 15 đầu Liên bang là Tông Công sứ (Resident General) dé chỉ đạo các bang thông qua các Công sứ của mỗi bang. Trên thực tế, Tông Công sứ có quyền hành rất lớn đối với mọi vấn đề của Liên bang, thực quyền của các Sultan bị cắt giảm đáng kẻ, chỉ trừ những vấn để thuộc Đạo Hồi.
Quyền lực của các Hội đồng bang cũng bị giảm. Đây thực chất là chế độ cai trị nửa trực tiếp, nửa gián tiếp, trong đó, bộ máy chính quyền và bộ máy hành chính địa phương vẫn được duy trì nhưng thực chất, quyền hành nằm trong tay người Anh. Sự cai trị của Anh tại Malaya tiếp tục được mở rộng đến các tiểu quốc ở. phía Bắc là Terengganu, Kelantan, Kedah và Perlis.
Cho đến trước năm 1909, bốn tiểu quốc trên vẫn chịu ảnh hưởng lớn của Xiêm. Nhưng đến tháng 7/1909, thông qua Hiệp định Anh — Xiêm, người Anh đã thiết lập được sự kiểm soát đối với các bang này. Tuy nhiên, sau khi thoát khỏi sự kiểm tỏa của Xiêm, các Sultan Malay lại không đồng ý gia nhập Liên bang. Bản thân chính quyền Anh cũng thấy khó có thể đưa bốn tiểu quốc này vào thể chế Liên bang bởi sự khác biệt khá lớn so với FMS về cơ cấu tộc người và trình độ phát triển kinh tế.
Cuối cùng thì các bang này được quyết định là Các bang Malay ngoài Liên bang (Un-Federated Malay States - UMS) và trở thành xứ bảo hộ của Anh. Anh buộc phải giới hạn quyền lực của mình ở “quyên cố vấn " và đễ cho các bang có một mức độ độc lập tương đối lớn về nội trị và tài chính. Chức năng và quyền hạn của Có vấn (Advisor) ở UMS rất khác so. với chức năng và quyền hạn của Công sứ (Resident) ở FMS.
Ở UMS, các Sultan Malay có thể tham khảo ý kiến của các Cố vấn nhưng không bắt buộc phải nghe theo. Năm 1914, Johor là vương quốc cuối cùng gia nhập UMS, chấp nhận chế độ cố vấn của Anh. Sự kiện này đánh dấu việc thực dân Anh hoàn thành quá trình bành trướng trên toàn bán đáo Malaya. Như vậy, từ năm 17§6 đến năm 1914, thực dân Anh từng bước thiết lập chế độ cai trị của mình lên lãnh thô.
Malaya với những hình thức cai trị khác nhau: 1. Khu định cư Eo biển (Straits Settlements — SS) gồm tỉnh Wellesley (trong đó có đảo Penang, vùng duyên hải Kedah được chuyển nhượng và vùng đất 'Naning), bang Malacca, đảo Singapore thuộc vùng đất cai tri :rực tiếp của Anh với chế độ Thống đốc. Liên bang các bang Malay (Federation of Malay States - FMS) gồm Perak, Selangor, Negri Sembilan và Pahang được áp dụng chế độ cai trị nửa trực tiếp, nửa gián tiếp. Đứng đầu FMS là Tông thống sứ (năm 1909 đổi thành Tổng thư kí).
Trên danh nghĩa, bốn bang trên vẫn còn duy trì chế độ vua nhưng quyền hành nằm trong tay Thống sứ các bang, chỉ trừ lĩnh vực văn hóa và tôn giáo. Các bang Malay ngoài Liên bang (Un-Federated Malay States - UMS) gồm năm vương quốc Kedah, Perlis, Kelantan, Terengganu, Johor là xứ bảo hộ với chế độ cai trị giản tiếp thông qua các cô vấn Anh. So với các tiểu quốc trong FMS, các Hồi quốc nằm trong UMS có tính độc lập hơn nhiều, trừ các vấn đề lớn của đất nước như ngoại giao và an ninh. Như vậy, xét về tổng thể, Malaya là một tập hợp rời rac mang tinh dia ly gồm ba đơn vị hành chính hơn là một thực thể chính trị.
Cũng cần nói thêm rằng, thời gian cai trị của Anh tại Malaya bị gián đọan trong những năm 1942 ~ 1945 bởi sự chiếm đóng của Nhật Bản rồi lại tiếp tục mãi cho đến năm 1957. Nhìn chung, hình thức cai trị trên của Anh đã được áp dụng suốt cả một thời gian dài. Sự cai trị của Anh đã có những tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục của Malaya. Tác động của chính sách thực dân dấi với Malaya.
Cho đến cuối thế ki XVIII, phần lớn các tiểu quốc trên bán đảo Malaya vẫn. duy trì một nền kinh tế nông nghiệp. Giữa các tiêu quốc cũng có sự trao đổi hàng hóa, đặc biệt là các sản vật tự nhiên nhưng không đáng kể. Sự xuất hiện của người Anh được xem như một lát cắt có ảnh hưởng phá vỡ cấu trúc kinh tế phong kiến truyền thống của xã hội bản địa.
Ngay từ khi đặt chân đến Penang, nhất là từ khi Khu định cư Eo biển (SS) được thiết lập vào năm 1826, người Anh đã “thi hành chính sách mở cửa, miễn thuế, chào đón tàu buôn dưới mọi sắc cờ" [5, tr. Với chính sách khuyến khích buôn bán tự do đó, đến đầu thế ki XX, kinh tế SS phát triển nhanh chóng. 17 Singapore đã trở thành trung tâm buôn bán, chuyên khẩu và tái xuất khâu mậu dịch lớn nhất Đông Nam Á. Với Các bang Malay ngoài Liên bang (UMS), Anh cũng áp dụng chính sách thương mại tự do.
UMS có diện tích rộng lớn, đất đai phù hợp cho việc trồng cây công nghiệp, nhất là cao su. Đây cũng là nơi giàu có về mỏ quặng, đặc biệt là thiếc. Vi vậy, thực dân Anh đã tăng cường đầu tư vốn vào các khu vực này. Năm 1896, chính phủ Anh ban hành Luật về ruộng đất.
Theo luật này, người Anh có quyển quyết định việc mua bán, chuyển nhượng đất đai trong toàn Malaya. Tuy nhiên, do đất rộng người thưa nên việc thiếu đất canh tác ở Malaya diễn ra không gay gắt Nam 1940, phan dat trung bình của mỗi hộ người Malay là khoảng 2,5 acre (xấp xỉ 1ha), đủ cho họ trồng lúa và các loại hoa màu khác [3, tr. Công nghiệp khai thác mỏ thiếc được coi là ngành công nghiệp mũi nhọn ở. Malaya thời kì này.
Ngành công nghiệp này có tầm quan trọng rất lớn không chỉ đối với các nhà đầu tư Anh vì lợi nhuận khổng lồ mà còn rất quan trọng đối với nền kinh tế Anh.