phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1 Tổng quan về cộng đồng ngƣời Stiêng ở miền Đông Nam Bộ Chƣơng 2 Chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với cộng đồng ngƣời Stiêng ở miền Đông Nam Bộ (1967-1975) Chƣơng 3 Tác động từ chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) đối với cộng đồng ngƣời Stiêng ở miền Đông Nam Bộ 11 C ƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƢỜI STIÊNG Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 1. Vài nét về lịch sử cộng đồng ngƣời Stiêng ở miền Đông Nam Bộ 1. Lịch sử tộc người Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, từ xa xƣa miền Đông Nam Bộ trở thành điểm tụ cƣ lâu đời của các tộc ngƣời nhƣ Mạ, Stiêng, Chơ Ro. Để phục vụ nhu cầu cai trị và khai thác tài nguyên thiên nhiên, thực dân Pháp tiến hành nhiều nghiên cứu trên lĩnh vực khảo cổ.
Ngày nay, việc phát hiện hệ thống di tích đất đắp hình tròn trên địa bàn tỉnh Bình Phƣớc từ những năm 30 của thế kỷ XX, mà theo nhà nghiên cứu Louis Malleret nhận định là những pháo đài Mọi. Cùng sự ra đời hàng loạt các công trình về tộc ngƣời Stiêng do các tác giả ngƣời Pháp nghiên cứu: “Taber (1838), Bathelemy (1904), Azémar (1887), Raulin (1936), Maitre (1912)” [5, tr. Qua đó, các nhà khoa học khẳng định: “từ thời kì Đá mới đến thời kì Đồ đồng ở miền Nam Đông Dƣơng” [5, tr.30], trong đó miền Đông Nam Bộ đƣợc xem là nơi cƣ trú chính của cộng đồng cƣ dân cổ đại, thuộc ngữ hệ Môn - Khmer tƣơng ứng với tiếng nói của dân tộc Stiêng hiện nay. Theo Giáo sƣ Mạc Đƣờng trong tác phẩm “Địa chí tỉnh Sông Bé” nhận xét: “Trƣớc thế kỉ XVII, khi lối canh tác ruộng nƣớc và vƣờn tƣợc chƣa xuất hiện nhiều ở miền Đông Nam Bộ và chƣa có sự hiện diện của cƣ dân ngƣời Việt thì vùng cƣ trú của ngƣời Stiêng ở lƣu vực sông Sài Gòn và sông Bé” [18, tr.
Theo Phan An trong công trình “Hệ thống xã hội tộc ngƣời Stiêng ở Việt Nam (từ giữa thế kỉ XIX đến năm 1975)” nhận định: “Ngƣời Stiêng vốn là một nhóm ngƣời từ phía Bắc di chuyển xuống phía Nam bán đảo Đông Dƣơng. Có lẽ ngƣời Stiêng đã định cƣ ở miền Nam Tây Nguyên từ những thế kỉ trƣớc công nguyên” [1, tr. Một số truyền thuyết ở phía Bắc Bình Phƣớc có nhắc đến vị thủy tổ của ngƣời Stiêng là “Diêng”. Tác phẩm “Địa chí tỉnh Sông Bé” có đề cập: “Vị tổ này rất giỏi về việc làm rẫy, săn bắt, rèn vũ khí và làm các bẫy bắt thú rừng” [18, tr.
Bên cạnh đó, ở vùng Bù Đốp còn có huyền thoại về vị tổ của họ khá chi tiết và cụ thể hơn: “Sôtiêng - vị tổ của ngƣời Stiêng ngày nay - có hai ngƣời em 12 gái và ông ta đắp núi Bà Đen và núi Bà Rá cho hai ngƣời em mình ở” [18, tr. Ngoài ra, ở thị xã Phƣớc Long tỉnh Bình Phƣớc ngày nay còn lƣu truyền một số truyền thuyết về các cuộc xung đột trong nội bộ ngƣời Stiêng “mà những thác nƣớc nổi tiếng trên dòng sông Đak Glung là trung tâm của những xung đột đó” [18, tr. Thông qua những truyền thuyết và huyền thoại về nguồn cội của ngƣời Stiêng, về những xung đột do vấn đề lƣơng thực và nƣớc uống. Có nhận định rằng: “thời gian xuất hiện những xung đột trên diễn ra vào giai đoạn phát triển cao của tộc ngƣời này, việc tranh chấp các vùng đất thiên nhiên có sẵn lƣơng thực và thực phẩm đã trở thành một vấn đề quyết định đối với đời sống của các nhóm địa phƣơng ngƣời Stiêng” [24, tr.
Đồng thời, có thể đoán định ngƣời Stiêng chính là một nhóm cƣ dân thuộc cộng đồng cƣ dân cổ đại, đã định cƣ lâu đời trên mảnh đất miền Đông Nam Bộ. Trong quá trình định cƣ sinh sống ở miền Đông Nam Bộ, xã hội ngƣời Stiêng diễn ra sự phân hóa giàu nghèo. Ngƣời Stiêng có điều kiện tiếp xúc với các cƣ dân láng giềng, “việc tiếp xúc diễn ra từ khá sớm và chủ yếu với ngƣời Chăm, ngƣời Khơme. Đã góp phần định hình địa bàn cƣ trú chính của ngƣời Stiêng ở miền Đông Nam Bộ một cách rõ nét.
Phía Bắc giáp với ngƣời Mơ nông, phía Nam giáp với ngƣời Kinh ngƣời Khơme ở phía Tây và ngƣời Mạ và Cơho ở phía Đông. Hiện nay, tập trung đông nhất trên địa bàn huyện Hớn Quản, huyện Bù Gia Mập và thị xã Phƣớc Long thuộc tỉnh Bình Phƣớc. Ngoài ra, còn một bộ phận ngƣời Stiêng sinh sống ở Đồng Nai, Tây Ninh và Bình Dƣơng. Bƣớc sang thế kỉ thứ II-III, địa vực cƣ trú của ngƣời Stiêng đƣợc mở rộng, nhƣng chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ.
Từ thế kỉ VI-VII, nơi định cƣ của ngƣời Stiêng trở thành vùng đệm giữa vƣơng quốc Chân Lạp và Chiêm Thành. Đến thế kỉ X trở đi, tộc ngƣời ngƣời Stiêng trở nên hùng mạnh và ảnh hƣởng lớn trên miền Đông Nam Bộ với danh xƣng “Vƣơng quốc Stiêng”. Từ thế kỉ XII trở đi, vùng Stiêng chịu sự cai trị của ngƣời Chăm trong nhiều thế kỷ liền. Do tiềm lực quốc gia hạn chế ngƣời Chăm đã không thể trực tiếp cai trị, nên ngƣời Stiêng vẫn duy trì lãnh thổ của mình cũng nhƣ những cơ cấu xã hội truyền thống.
Trong suốt thế kỉ XVII-XVIII ngƣời Stiêng ở miền 13 Đông Nam Bộ có điều kiện tiếp xúc thƣờng xuyên với các dân tộc anh em. Các di dân ngƣời Kinh, ngƣời Khơme đến khẩn hoang lập làng sống xen kẽ với ngƣời Stiêng ở Đồng Xoài, Hớn Quản…. Mối quan hệ giữa cƣ dân ngƣời Kinh, ngƣời Khơme đối với ngƣời Stiêng diễn ra thuận thảo với nhau. Năm 1802, nhà Nguyễn đƣợc thành lập trên một lãnh thổ rộng lớn, với nhiều dân tộc thiểu số.
Dƣới thời vua Minh Mạng, cho “thành lập bộ máy hành chính ở miền rừng núi thuộc đất Đồng Nai - Gia Định, Minh Mạng cho lập tỉnh Biên Hòa, cho ngƣời chiêu dụ các dân tộc ít ngƣời đặt lỵ sở, biên hộ tịch và thu thuế. Lúc ấy vùng đất phía Tây Bắc huyện Phƣớc Bình thuộc 4 thủ: Tân Định, Tân Lợi, Tân Bình và Tân Thuận và có 81 sách đồng bào các dân tộc ích ngƣời mà ở đây có thể là ngƣời Stiêng” [45, tr. Dù xác lập bộ máy đặc trách nhƣng việc cai trị của nhà Nguyễn đối với ngƣời Stiêng vẫn chƣa chặt chẽ. Từ nữa sau thế kỉ XIX, các nhà thám hiểm và truyền giáo Phƣơng Tây đến vùng Stiêng để khảo sát và tiến hành các hoạt động truyền giáo.
Sau đó, thực dân Pháp xâm lƣợc và thi hành nhiều chính sách nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên. Những chính sách này đã gây nên nhiều tác động lớn, ảnh hƣởng sâu sắc đến ngƣời Stiêng. Nổi bật nhất là chính sách cƣớp đoạt đất đai ngƣời Stiêng để lập đồn điền, làm vùng cƣ trú và lãnh thổ của họ bị thu hẹp nhanh chóng. Sự kiện này, gây nên làn sóng căm hận và kháng cự mạnh mẽ trong cộng đồng ngƣời Stiêng.
Ngay khi Pháp thất bại, đế quốc Mỹ nhanh chóng can thiệp vào Việt Nam. Chính thể Việt Nam Cộng hòa ra đời, thực hiện chiêu bài mị dân, lôi kéo và cƣỡng ép đồng bào dân tộc thiểu số vào các khu dinh điền, ấp chiến lƣợc nhằm kiềm kẹp, tách đồng bào ra khỏi phong trào cách mạng. Dƣới thời Việt Nam Cộng hòa, ngƣời Stiêng tập trung sinh sống ở các tỉnh Bình Long, Phƣớc Long, phía Bắc Tây Ninh. Bên cạnh đó, họ còn định cƣ sinh sống rải rác ở tỉnh Lâm Đồng, Long Khánh theo kinh tế mới.
Để ngăn cản sự giúp đỡ của đồng bào dân tộc đối với cách mạng, quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa liên tục dội bom, rải chất độc hóa học điôxin xuống vùng Đông Nam Bộ, gây hậu quả nặng nề đối với đời sống ngƣời Stiêng. Dù gặp nhiều khó khăn, gian khổ nhƣng ngƣời Stiêng có 14 đóng góp to lớn về sức ngƣời, sức của cho chính quyền cách mạng. Góp công lớn đến chiến thắng lịch sử 30-4-1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nƣớc. Sau năm 1975, đồng bào Stiêng cùng với nhân dân cả nƣớc bƣớc vào thời kỳ độc lập tự do, bắt tay nhau vào sự nghiệp xây dựng nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa trên lãnh thổ Việt Nam.
Tên các nhóm địa phương Ngƣời Stiêng có nhiều tên gọi khác nhau nhƣ: “Xa Điêng, Bu Lơ, Bu Đip, Bu Đêh, Bu Lanh, Ray, Tà Mun, Bà Rá, Dalmer, Rong Ah, Bu Le” [26, tr. Tác giả Phan Hữu Dật nhận định có nhiều tên gọi cho dân tộc Stiêng: Bù Lơ, Bù Đek, nhóm Tà Mun, Xa Điêng và Mọi. Từ “Mọi” đƣợc nhắc đến sớm nhất trong các văn bản dƣới triều Nguyễn. Các tài liệu ghi chép việc truyền giáo của các cha cố đều sử dụng danh xƣng “Mọi” chỉ các dân tộc thiểu số.
Dƣới thời Pháp, từ “Mọi”dùng để chỉ các tộc ngƣời thiểu số ở vùng cao, trong đó có ngƣời Stiêng. Thời Việt Nam Cộng hòa, chính quyền gọi các dân tộc thiểu số sinh sống ở Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, duyên hải miền Trung là “ngƣời Việt gốc Thƣợng” hoặc “ngƣời Thƣợng”. Mỗi dân tộc thiểu số tƣơng ứng với một sắc dân hay sắc tộc. Các thống kê dân số từng năm theo tỉnh, khu và vùng chiến thuật đều xác nhận từ chính quyền Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu xếp sắc tộc Stiêng thuộc nhóm “ngƣời Thƣợng miền Nam”.
“Trong danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam công bố ngày 02 tháng 03 năm 1979 của Tổng cục trƣởng cục thống kê nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tộc danh Xtiêng xếp số thứ tự 22 với tên gọi khác là Xa điêng” [1, tr. Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất dùng cách viết Stiêng nhƣ Phan An đã dùng trong tập sách “Hệ thống xã hội tộc của ngƣời Stiêng ở Việt Nam (từ giữa thế kỉ XIX đến năm 1975)” để phù hợp với cách tự gọi tên của dân tộc này. Ngƣời Stiêng có nhiều nhóm địa phƣơng khác nhau, đa số các tài liệu cho rằng có bốn nhóm: Bù Lơ, Bù Đek, Bù Biek và Bù Dik. Nhƣng hiện nay chỉ có ba nhóm chính: Bù Lơ, Bù Dek và Bù Biek.
Tác giả Đinh Văn Liên đã phân biệt 15 rõ các nhánh ngƣời Stiêng. Ngƣời Stiêng Bù Lơ “là ngƣời Stiêng ở miền trên, miền cao, phân bố ở hầu khắp các vùng núi rừng xã Đak Ơ, Đak Nhau, Thọ Sơn, Thống Nhất, Đồng Nai của huyện Phƣớc Long” [18, tr. Ngƣời Stiêng Bù Đek “tức là ngƣời Stiêng miền dƣới, phân bố ở các vùng đất bằng thuộc huyện Lộc Ninh, Bình Long” [18, tr. Còn nhóm Stiêng Bù Biek “cƣ trú ở đầu nguồn sông Đak Quít trên đất Campuchia thuộc tỉnh Mônđunkiri” [18, tr.