Đặt vấn đề Khi dân số ngày càng gia tăng thì việc nuôi trồng thủy sản cũng tăng nhanh và ra đời các trung tâm sản xuất thức ăn thủy sản. Khi các doanh nghiệp sản xuất thức ăn tăng lên thì mối quan tâm lớn nhất sẽ là vấn đề xả thải. Nƣớc thải các nhà máy chế biến thức ăn thủy sản luôn chứa nhiều chất hữu cơ, cặn lơ lửng, hàm lƣợng N, P cao. Vấn đề chính của việc xử lý nƣớc thải ngành sản xuất thức ăn thủy sản là việc xử lý N, P.
Hiện nay có nhiều phƣơng pháp xử lý nƣớc thải chứa Nitơ cao nhƣ CANON, SHARON, OLAND, SNAP,A2O, Anammox nhƣng Jetten và cộng sự (2012) [1] đã chứng minh rằng công nghệ Anammox có thể giải quyết tốt vấn đề xử lý N, P trong nƣớc thải có hàm lƣợng chất dinh dƣỡng cao do đòi hỏi nhu cầu về oxy ít hơn, không cần bổ sung nguồn Cacbon hữu cơ từ bên ngoài, nó đem lại lợi ích về kinh tế. Với việc nuôi cấy Anammox bằng chính nguồn vi khuẩn bản địa có thể giúp cho vi sinh vật xử lý nƣớc thải có khả năng thích nghi cao với môi trƣờng hơn so với nguồn vi khuẩn đƣợc thu thập từ nhiều nguồn phải trải qua quá trình thích nghi lâu dài. Kocamemi BA và cộng sự (2018) [2] đã nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của kỹ thuậtsử dụng seed trong giai đoạn khởi động và làm giàu của các hệ thống Anammox bằng cách theo dõi cả hiệu suất của quá trình và động lực học của vi sinh vật. Hai kỹ thuậtseeding khác nhau, sử dụng nuôi cấy bùn hoạt tính hỗn hợp từ nguồn bùn địa phƣơng và sử dụng nuôi cấy Anammox đƣợc làm giàu từ nƣớc ngoài, đƣợc nghiên cứu tƣơng đối trong các hệ thống SBR hoạt động trong 410 ngày.
Seed Anammox đƣợc làm giàu từ nƣớc ngoài bị ức chế nghiêm trọng trong quá trình vận chuyển. Hoạt động Anammox bắt đầu lại sau thời gian phục hồi 195 ngày. Hoạt tính Anammox đã đƣợc làm giàu thành công trong vòng 95 ngày từ nguồn bùn hoạt tính cục bộ mà không cần seeding Anammox. Vi khuẩn Anammox đạt mức 1.011 bản/ng vào cuối thời gian làm giàu 410 ngày.
Kết quả FISH cho thấy, Ca. Brocadia anammoxidans và Ca. Scalindua chiếm ƣu thế trong môi trƣờng làm giàu. TNRR tối đa đƣợc quan sát là 430 mg N/ngày.
Các phân tích DGGE cho thấy một sự thay đổi mạnh mẽ trong cộng đồng vi sinh vật (56%) với sự làm giàu Anammox. 2 Vì vậy, đề tài ―LÀM GIÀU VI KHUẨN ANAMMOX TỪ BÙN KỴ KHÍ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƢỚC THẢI NHÀ MÁY SẢN XUẤT THỨC ĂN CÁ‖đƣợc chọn để tiến hành nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Nuôi cấy làm giàu vi khuẩn Anammox từ bùn kỵ khí hệ thống xử lý nƣớc thải nhà máy sản xuất thức ăn cá. Nội dung nghiên cứu Đề tài bao gồm các nội dung nhƣ sau: (i) Thiết kế, lắp đặt mô hình làm giàu Anammox từ bùn kỵ khí hệ thống xử lý nƣớc thải nhà máy sản xuất thức ăn cá.
(ii) Chạy thích nghi, tích lũy và làm giàu sinh khối trên môi trƣờng nƣớc thải nhân tạo. (iii) Định danh xác định sự có mặt của vi khuẩn Anammox trong bùn của hệ thống. (iv) Khảo sát ảnh hƣởng của các yếu tố bao gồm pH, nhiệt độ, độ kiềm,…đến quá trình khử Ammoni. Đối tƣợng nghiên cứu Nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình có thể tích hiệu dụng 9 lít để thực hiện thí nghiệm nuôi cấy làm giàu vi khuẩn Anammox từ bùn kỵ khí nhà máy sản xuất thức ăn cá Công ty Cổ phần Chăn Nuôi C.
Việt Nam tại Cần Thơ. Phƣơng pháp nghiên cứu * Phƣơng pháp tổng quan tài liệu, tham khảo, tìm hiểu các nghiên cứu đã đƣợc thực hiện ứng dụng công nghệ Anammox từ các bài báo đã đƣợc công bố. Tìm hiểu các cơ chế xảy ra trong quá trình Anammox, tham khảo các tài liệu về vận hành, các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình. * Thiết kế thí nghiệm: + Thiết kế mô hình; + Thử nghiệm thăm dò, xác định các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình loại bỏ NH4+- N; + Các nghiệm thức: 3 - Thí nghiệm 1: Khởi động nuôi cấy làm giàu bùn ở tải trọng 0,058 kgN/m3.
- Thí nghiệm 2: Giai đoạn tích lũy và làm giàu vi khuẩn Anammox ở tải trọng 0,25 kgN/m3. - Thí nghiệm 3: Giai đoạn tích lũy và làm giàu vi khuẩn Anammox ở tải trọng 0,33 kgN/m3. * Phƣơng pháp lấy mẫu và phân tích, đánh giá số liệu thực nghiệm của thí nghiệm, hàng ngày theo dõi chỉ tiêu pH, DO, nhiệt độ; hàng tuần theo dõi các chỉ tiêu, NH4+ - N, NO3- -N, NO4 - - N. * Phƣơng pháp lấy mẫu chạy PCR giải trình tự DNA.
* Phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu thực nghiệm đƣợc nhập vào phần mềm Excel (version 2010) hàng ngày và xử lý số liệu trên phần mềm Excel (version 2010) và SPSS (version 23). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu cung cấp bổ sung nguồn gen Anammox từ bùn kỵ khí nhà máy sản xuất thức ăn cá. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu góp phần thực tế xử lý nƣớc thải giàu nitơ của các hệ thống xử lý nƣớc thải thủy sản ở phía Nam.
Tính mới của đề tài Thu nhận và làm giàu nguồn gen Anammox tại chỗ. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tính chất nƣớc thải ngành sản xuất thức ăn thủy sản Do đặc trƣng của ngành nghề sản xuất thức ăn cá là không sử dụng nƣớc trong quá trình sản xuất nên không phát sinh nƣớc thải (lƣợng nƣớc sử dụng cho hoạt động lò hơi sẽ hóa hơi và không phát sinh nƣớc thải). Lƣợng nƣớc thải phát sinh chủ yếu là nƣớc từ việc vệ sinh hệ thống chứa cám bụi, vệ sinh bồn dầu cá, mắm tôm, và nƣớc thải sinh hoạt.
Nƣớc thải chứa nhiều bột cám nổi. Lƣợng nƣớc thải này chứa hàm lƣợng cao SS, BOD, COD các chất dinh dƣỡng.1 Kết quả phân tích nƣớc thải đầu vào công ty cổ phần chăn nuôi C. Việt Nam STT CHỈ TIÊU ĐƠN VỊ KẾT QUẢ 1 TSS mg/L 7,805 2 BOD5 (20C) mg/L 19,500 3 COD mg/L 26,840 4 Tổng N mg/L 946 5 Tổng P mg/L 138 6 Ammonia mg/L 276 7 Sunfua mg/L 12 8 Coliform MPN/100mL 2,4x103 (Nguồn: Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng Cần Thơ, 2016) 1. Công nghệ xử lý nƣớc thải ngành sản xuất thức ăn thủy sản Hiện nay có nhiều nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn để xử lý nitơ trong nƣớc thải thủy sản.
Ghaly và cộng sự (2004) [3] đã thực hiện năm ô đất đã đƣợc kiểm tra khả năng loại bỏ chất dinh dƣỡng từ nƣớc thải nuôi trồng thủy sản và sự phù hợp nhƣ thức ăn cho cá: cỏ linh lăng, cỏ ba lá trắng, yến mạch, lúa mạch đen, lúa mạch. Những hạt giống đầu tiên đƣợc nảy mầm trong nƣớc trong một hệ thống thủy canh, và các ô đất đƣợc cho ăn nƣớc thải từ cá rô phi cơ sở sản xuất. Hạt cỏ ba lá và cỏ linh lăng đã bị nhiễm nấm ngay sau khi nảy mầm, và rễ của chúng đã bị phá hủy hoàn toàn ở ngày 14. Yến mạch, lúa mạch đen và lúa mạch có tốc độ tăng trƣởng nhanh nhất và cho thấy khả năng chịu 5 bệnh nấm cao hơn so với cỏ linh lăng và cỏ ba lá.
Mặc dầumột lƣợng đáng kể các chất hòa tan và không hòa tan đƣợc giải phóng bởi hạt trong thời kỳ nảy mầm, cây có thểloại bỏ tất cả các chất ô nhiễm trong nƣớc thải và các phần quan trọng của các chất đƣợc giải phóng. Tổng mức giảm trong tổng chất rắn, COD, NO3- - N, NO2- - N, P và K dao động từ 54,7-91,0%; 56-91,5%; 82,9-98,1%; 95,9-99,5%; 54,5-93,6% và 99,6-99,8%, tƣơng ứng. Yến mạch, lúa mạch và lúa mạch đen phát triển tốt trong loại hệ thống thủy canh này và có thể đƣợc sử dụng làm thức ăn cho cá sau khi đƣợcbổ sung chất béo, Ca, Na, Mn và Fe. Dầu và clorua của các nguyên tố này có thể đƣợc thêm vào các nhà máy này khi xây dựng cho cá ăn.
Đối với hoạt động liên tục, một hệ thống hai đơn vị có thể đƣợc cấu hình để cho phép nảy mầm một tuần và làm sạch một tuần vàkhởi động trong một đơn vị trong khi đơn vị khác đang hoạt động.G và cộng sự (2014) [4], đã làm giàu Anammox trong dòng nƣớc của nhà máy xử lý nƣớc thải (WWTP) tiết kiệm năng lƣợng cho sục khí và cho phép thu hồi khí sinh học từ vật liệu hữu cơ. Những thách thức chính khi áp dụng quy trình Anammox trong dòng nƣớc có liên quan đến nhiệt độ thấp < 20 C, làm giảm đáng kể độ đặc hiệu hoạt động Anammox. Mục đích của nghiên cứu này là làm phong phú thêm một loài Anammox thích nghi lạnh, với mức cao hoạt động cụ thể. Điều này đã đạt đƣợc trong một lò phản ứng 4,2 L hoạt động ở 10 C, đƣợc nuôi dƣỡng với 61 mgN/L (NH4+, NO2-) và đƣợc cấy với bùn hoạt tính từ hai WWTP thành phố đƣợc chọn.
Candidatus brocadia fulgida là loài chiếm ƣu thế trong sinh khối đƣợc làm giàu, với một hoạt động cụ thể là 30 –44 mg N/(gVSd). Điều này cao gấp hai lần so với báo cáo trƣớc đây ở 10 C, có lợi cho ứng dụng toàn diện. Năng suất khối lƣợng sinh học là 0,046 g sinh khối/g N đƣợc chuyển đổi, tƣơng tự nhƣ ở nhiệt độ cao hơn. Apipong và cộng sự (2008) [35] đã sử dụng quá trình bùn hoạt tính với quá trình nitrat hóa bán phần (AS/PN) kết hợp với quá trình oxy hóa amoni kỵ khí (Anammox) xử lý nƣớc thải chế biến thủy sản.
Điều kiện hoạt động của quá trình AS/PN để ghép nối với quá trình Anammox đƣợc xác định là pH trong khoảng 7,7 - 8,2 và DO là 0,5 - 0,9 mg/L để đạt đƣợc loại bỏ hơn 85% COD cũng nhƣ quá trình nitrat hóa một phần. Quá trình AS/PN đƣợc phát triển có thể tạo ra nồng độ gần nhƣ bằng nhau nitơ amoni và nitrit trong nƣớc thải rất phù hợp cho quá trình Anammox. Loại bỏ gần hoàn toàn ammonium 6 và nitrite đã đạt đƣợc trong quá trình vận hành Anammox ở trạng thái ổn định. Tốc độ loại bỏ nitơ tối đa cho quá trình Anammox đƣợc tìm thấy là 0,6 kgN/m3.
Các vi sinh vật tham gia vào cả quá trình AS/PN và Anammox đƣợc xác định bằng cách sử dụng kỹ thuật phản ứng lai tại chỗ và chuỗi polymerase. Kết quả 16S rDNA tiết lộ 94% tƣơng đồng với Candidatus “Brocadia Fulgida”. Jetten và cộng sự (2012) [1] đã so sánh định tính một số công nghệ xử lý dinh dƣỡng và quá trình Anammox nhƣ sau: Bảng 1.