Chương 1: Lê Quý Đôn, “Kiến văn tiểu lục” và vấn đề thể loại. - Chương 2: Đời sống văn hóa trung đại trong “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn. - Chương 3: Một số phương thức thể hiện của “Kiến văn tiểu lục” từ góc nhìn văn hóa. LÊ QUÝ ĐÔN, “KIẾN VĂN TIỂU LỤC” VÀ VẤN ĐỀ THỂ LOẠI 1.
Tác gia Lê Quý Đôn và “Kiến văn tiểu lục” 1. Lê Quý Đôn - một hiện tượng văn hóa ở thế kỷ XVIII Lê Quý Đôn tên thật là Lê Danh Phương, tên tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường. Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (1726) và mất ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (1784). Ông là người làng Diên Hà, trấn Sơn Nam hạ (nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
Ông làm quan dưới thời Lê Trung Hưng, vừa là nhà thơ vừa là nhà khoa học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến. Lê Quý Đôn được thừa hưởng trí tuệ và đạo đức từ người cha của mình, ông Lê Trọng Thứ (lúc nhỏ có tên là Lê Phú Thứ). Ông là một người cha mẫu mực, một vị quan liêm chính, luôn sống giản dị, kính già yêu trẻ, hết lòng vì dân vì nước. Điều đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến phẩm chất đạo đức của Lê Quý Đôn.
Ông Lê Trọng Thứ đỗ Tiến sĩ năm Giáp Thìn (1724), được bổ nhiệm vào Viện Hàn Lâm, sau được phong tước Diễn phái hầu rồi đến tước Hà quận công. Sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng từ bé, Lê Quý Đôn đã ấp ủ trong mình hai hoài bão lớn là kinh bang tế thế và trước thư lập ngôn. Từ thuở bé, ông được người đời ca tụng về trí thông minh hơn người. Hai tuổi, ông đã biết đọc chữ “hữu”, chữ “vô”.
Năm tuổi, ông đã thuộc lòng Kinh thi. Mười một tuổi, mỗi ngày ông thuộc hàng tám, chín mươi trang sử. Mười bốn tuổi, một ngày ông làm mười bài phú mà không phải nghĩ, không viết nháp. Năm 1739, Lê Quý Đôn theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long, khi đó ông đã học xong toàn bộ sách kinh, sử của Nho gia.
Ngoài trí tuệ trời ban cùng với công lao cha mẹ rèn đúc nên nhân tài thì những người thầy của e 17 Lê Quý Đôn cũng góp phần quan trọng. Ông được tiếp xúc, học hỏi các bậc đại phu tài giỏi trong triều như Lan Đình hầu Đinh Công, Tả thị lang bộ Hình Vũ Đình hầu Nguyễn Công, Hữu thị lang bộ Công Trần Công… Từ đó, tài năng của ông càng được nảy nở. Ngô Thì Sĩ từng nhận định về tính hiếu học của Lê Quý Đôn: Ngô Thì Sĩ cho là: “Sở dĩ ông hơn hẳn người chẳng phải vì tài mà còn vì chăm chỉ đó sao”. Ông là người “xem sử quên ăn dưa, đọc kinh không biết mỏi, mỗi ngày thuộc hàng tám chín mươi trang”, “ông học rộng như Nguyên Khải nhưng hơn ở chỗ chăm chỉ”.
Hơn nữa, ông lại là người có chí khí. Theo Ngô thì Sĩ: “Đến khi biết chơi đùa, ông chỉ thích vun cát, vạch bát quái, ngồi xổm trông trời, ngoài sách vở ra, không ưa chuộng thứ gì khác” [35, tr. Trong 13 năm tiếp theo, ông thi Hương đỗ Giải nguyên rồi tiếp tục đỗ Hội nguyên và đỗ Đình Nguyên Bảng nhãn. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm quan, giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới triều Lê - Trịnh như Hàn Lâm viện thị giảng, Bồi tụng, Hiệp trấn Nghệ An, Công bộ Thượng thư… Trong cuộc đời làm quan của Lê Quý Đôn, ông được đi nhiều nơi, gặp gỡ các bậc tài danh, đọc những loại sách mới lạ và tìm hiểu chuyện đời, chuyện người.
Từ đô thị Thăng Long, Lê Quý Đôn đã đi đến nhiều vùng miền khác trong cả nước. Ông được tiếp xúc với nhiều người, nhiều vùng văn hóa, cảm nhận sự giàu đẹp của các vùng đất, sưu tầm văn hóa nhiều vùng miền. Lê Quý Đôn không chỉ đi khắp hai miền Nam Bắc mà còn tận dụng việc đi sứ, đi công cán để tiếp cận với nền văn hóa nước ngoài. Qua những lần đi sứ, ông khẳng định niềm tự tôn, tự hào dân tộc của mình.
Năm 1760, Thái thượng hoàng Lê Ý Tông mất, triều đình Lê - Trịnh cử Lê Quý Đôn làm Phó sứ sang nhà Thanh báo tang và nộp lễ cống. Khi sứ đoàn của ta đi qua các châu, phủ ở Trung Quốc đều bị gọi là “di quan, di mục”, nghĩa là quan lại mọi rợ. Bất e 18 bình điều đó, Lê Quý Đôn đã viết thư cho Tổng đốc Quảng Châu để phản đối. Với uy tín của mình, cùng lời văn chặt chẽ, đanh thép, triều đình Mãn Thanh buộc phải ra lệnh bỏ danh từ khinh miệt này và gọi sứ đoàn nước ta là “An Nam cống sứ”.
Năm 1762, ông tiếp tục đi sứ sang Trung Quốc, tại đây ông được tìm hiểu chính trị Trung Quốc, tiếp xúc với nhiều văn trí thức Trung Hoa. Đó là các nho thần nhà Thanh như Lương Thi Chính, Qui Hữu Quang. Hơn thế nữa, Lê Quý Đôn còn gặp gỡ, cùng làm thơ với các sứ thần Triều Tiên là Hồng Khải Hi, Triệu Vinh Kiến. Ông cho họ xem tác phẩm mình mang theo như Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện, tập Tiêu Tương bách vịnh và chính Hồng Khải Hi đã viết lời tựa cho ba sách này.
Họ đều hết mực khen ngợi, thán phục về học vấn sâu rộng của ông. Ở đây, ông có dịp đọc nhiều sách mới lạ kể cả sách của người phương Tây nói về địa lý thế giới, ngôn ngữ học, thủy văn học… Có thể thấy, Lê Quý Đôn là một người có tầm nhìn xa, có kinh nghiệm ngoại giao ở thời Hậu Lê. Sau khi đi sứ về nước, Lê Quý Đôn được thăng chức Hàn lâm viện thừa chỉ, giữ chức Học sĩ bí thư các. Năm 1764, ông được cử giữ chức Đốc đồng xứ Kinh Bắc.
Năm 1765, ông được bổ nhiệm làm Tham chính xứ Hải Dương, nhưng ông không nhận, xin cáo quan về nhà viết sách. Năm 1767, Trịnh Sâm lên thay cha, mời Lê Quý Đôn quay trở lại triều chính, trao cho chức Thị thư, tham gia biên soạn quốc sử, kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám. Năm 1768, ông đại phá quân Lê Đình Bản ở Đồng Cổ. Ông được thăng chức Thị phó đô ngự sử (1769) và Công bộ hữu thị lang (1770).
Những năm 1772 - 1774, ông đi công cán ở các vùng Sơn Nam, Tuyên Quang, Lạng Sơn, làm nhiệm vụ điều tra tình hình thống khổ của nhân dân cùng tệ nạn tham nhũng của bọn quan lại, đo đạc ruộng đất bị khai man. Ông xem chuyến đi này là cuộc thực tế để hiểu về đời sống nhân dân và biết được con đường kinh bang tế thế của mình cần làm những gì. Năm 1775, Lê Quý Đôn thăng chức Lại bộ tả thị lang kiêm e 19 Quốc sử quán tổng tài. Năm 1776, chúa Trịnh đặt ty trấn phủ ở Thuận Hóa, ông được cử giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ.
Trong thời gian ở đây, ông ra sức chấn chỉnh lại bộ máy chính quyền, chăm lo đời sống kinh tế, giáo dục cho nhân dân. Năm 1778, Lê Quý Đôn được thăng chức Hành tham tụng nhưng ông từ chối, xin đổi sang ban võ và được phong tước Hữu hiệu điểm, quyền Phủ sứ, tước Nghĩa phái hầu. Năm 1779, ông bị Hoàng Văn Đồng tố giác ỷ thế ức hiếp lấy bạc và bị giáng chức. Năm 1782, ông được triệu về triều thăng lên chức Công bộ thượng thư.
Đến năm 1784, khi Lê Quý Đôn mất, Trịnh Khải đề nghị bãi triều ba ngày để tang ông, đặt tên thụy là Văn Trung, truy tặng tước Thiếu Bảo. Quãng đời làm quan của Lê Quý Đôn có cả ưu và nhược điểm, nhưng ưu điểm nhiều hơn. Học thuật cao siêu, uyên bác, cần cù tích lũy kiến thức chính là ưu điểm lớn nhất của ông. Tri thức trong sách vở, kinh nghiệm cuộc sống phong phú mà ông tích lũy được trong 58 năm sống, học tập và làm việc đã giúp ông trở thành nhà bác học lỗi lạc, nhà văn hóa tiêu biểu của lịch sử văn hóa Việt Nam.
Thế kỷ XVIII là thế kỷ có nhiều biến động lớn, đó cũng là những cơ sở xã hội quan trọng góp phần hình thành nên phong cách đa tài của ông quan Bảng họ Lê. Tạ Ngọc Liễn có viết đôi dòng về thời đại của Lê Quý Đôn: Ngoài đầu óc thông tuệ đặc biệt cộng với vốn sống lịch lãm và một nghị lực làm việc phi thường, phải kể đến thời đại Lê Quý Đôn sống, bởi vì một tài năng lớn bao giờ cũng là con đẻ của thời đại. Lê Quý Đôn sống ở thế kỷ XVIII là thời kỳ xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn. Trong lòng xã hội Việt Nam đầy mâu thuẫn khi ấy đang nảy sinh những mầm mống mới của thời kỳ kinh tế hàng hóa, thị trường trong nước mở rộng, thủ công nghiệp và thương nghiệp có cơ hội phát triển… Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ tới e 20 đời sống văn hóa, tư tưởng, khoa học.
Ở thế kỷ XVIII, xuất hiện nhiều tên tuổi rực rỡ như Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Lê Hữu Trác… Đồng thời các tri thức văn hóa, khoa học của dân tộc được tích lũy hàng nghìn năm tới nay đã ở vào giai đoạn súc tích, tiến đến trình độ phải hệ thống, phân loại. Thực tế khách quan này đòi hỏi có những bộ óc bách khoa và Lê Quý Đôn với học vấn như biển cả của mình đã trở thành “tập đại thành” mọi tri thức của thời đại [24, tr. Có thể nói, trước tác của Lê Quý Đôn đã bao quát tri thức văn hóa dân tộc ở thế kỷ XVIII và tạo dấu mốc lớn đánh dấu thành tựu văn hóa cả một thời đại. Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, Lê Quý Đôn được biết đến là nhà bác học, nhà văn hóa hàng đầu của nước ta.
Bên cạnh đó, ông còn được vinh danh với những danh xưng khác như: nhà sử học, nhà khảo cứu, nhà thơ, nhà ngôn ngữ, nhà ngoại giao, nhà giáo, nhà thư tịch… Dù với danh xưng nào thì cuộc đời của Lê Quý Đôn cũng đều có sự gắn kết đặc biệt đối với sách vở, văn chương. Suốt quá trình làm quan, bản thân ông rất biết cách tận dụng thời gian cho việc nghiên cứu, biên soạn sách chuyên khảo. Ông để lại cho đời sau nhiều công trình khảo cứu về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán, văn hoá xã hội, văn thơ… có giá trị lớn.